Thị giác/ phi thị giác: Một đề dẫn ngắn vào mỹ thuật đương đại

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Đôi giày, tranh Van Gogh

Chu Mộng Long: Bảng phác họa này không có tham vọng bao quát toàn bộ lịch sử mỹ thuật. Đây chỉ là một đề dẫn làm cầu nối cho thưởng thức mỹ thuật đương đại, trong đó có mỹ thuật Việt Nam và mỹ thuật Bình Định. Thị giác và phi thị giác đang là nghịch lý của những nỗ lực cách tân.

Khoái lạc thị giác mang lại văn minh cho loài người. Mệnh đề này tỏ ra khó hiểu nếu chúng ta chỉ nhìn vào mỹ thuật đương đại khi thế giới của đường nét, màu sắc, hình khối trong các cuộc triển lãm nghệ thuật có vẻ như đang mở ra mà lại bịt mắt chúng ta. Từng có nhà phê bình nhắc lời của triết gia lừng danh Hegel: “Nghệ thuật chết”, bởi cái ngoại hiện không còn tồn tại sáng sủa cho ý niệm tinh thần thăng hoa.

Xem ra, mỹ thuật vẫn là khoái lạc thị giác, nhưng càng ngày nó càng chẳng còn giống cái gì như con mắt chúng ta nhìn thấy. Sau chủ nghĩa Cổ điển, thế giới thị giác trở thành phi thị giác. Từ Paul Cézanne thách thức con mắt chúng ta bằng sự đắp chồng các mảng màu đối lập không pha trộn, đến các đường nét dữ dội và thô ráp của Vincent Van Gogh, thế giới bắt đầu hiện ra méo mó đến kỳ dị dưới bàn tay của Edvard Munch, Rene Magritte, Pablo Picasso… và hết sức bí ẩn, mơ hồ trong sáng tạo của Salvador Dali, Wassily Kandinsky… Nghệ thuật thật “cao siêu” đúng như lời tự sướng của một họa sĩ siêu thực và trừu tượng!

Rồi nữa, trong cái thế giới ngày một vươn đến sự cao siêu ấy, đột nhiên nó quay trở lại rất giống như những thứ chúng ta vẫn thấy hàng ngày, những vật dụng tầm thường, thậm chí là những thứ đã bị vứt trong bãi rác. Một cái bồn tiểu hay một cái vòi nước của Marcel Duchamp chẳng hạn. Nếu không phải hết sức tầm thường thì cũng có thể nói là điên rồ!

Vậy là lý thuyết “nghệ thuật chết” của Hegel có chỗ đứng?

Không, nghệ thuật vẫn sống bằng quan hệ biện chứng giữa cái ngoại hiện và linh hồn của nó! Nó đang thách thức con mắt chúng ta nếu chúng ta còn khoái lạc thị giác. Vẫn đường nét, màu sắc, hình khối, mặc dù nó rất giống hoặc không hề giống với những thứ chúng ta nhìn thấy.

Hơn 16.000 năm trước, trên vách hang động Lascaux (Pháp) đã xuất hiện những bức họa miêu tả hình ảnh các con thú hoang dã. Người nguyên thủy dùng những hình ảnh này như một niềm hứng thú với thế giới xung quanh mà người ta thường thấy. Khoảng 9.000 trước, tại Trung Đông đã từng có những chiếc mặt nạ bằng đá rất kỳ dị không thể thấy ở đâu trong tự nhiên, nhưng lại là niềm hứng thú trong các nghi lễ và các cuộc diễn trò. Và khoảng hơn 2.600 năm trước công nguyên, cùng với các kim tự tháp khổng lồ là bức tượng con nhân sư hùng vĩ, phía bên trong các vách tường kim tự tháp là những bức tranh với hình thù đơn giản vừa giống tự nhiên vừa giống như những con chữ tượng hình mà người Hán khắc trên giáp cốt. Và ngược dòng xa hơn nữa, có khi đã hơn cả triệu năm trước, những chiếc rìu đá với những hoa văn cầu kỳ và những ký hiệu đơn giản mang lại cho chúng ta bao nhiêu điều bí ẩn và thú vị. Không nghi ngờ mỹ thuật đã khai sáng cho nhân loại, từ hoang dã chuyển sang văn minh.

Hội họa là sản phẩm văn hóa khởi đầu của mọi văn hóa.

Tôi hình dung mỹ thuật ở dạng sơ khai mang tính nhất nguyên: vừa là hình ảnh của trò chơi đường nét, màu sắc, hình khối để giao tiếp với tự nhiên vừa là kí hiệu để giao tiếp cộng đồng. Về sau nó vận động phân đôi theo phép nhị nguyên: một mặt những phức tạp của tự nhiên bị giản lược để hướng đến sự trừu tượng của tư duy và chỉ còn những nét biểu trưng mà ta gọi là chữ viết, mặt khác nó phát triển đa dạng và sinh động đường nét, màu sắc để trở thành hội họa. Tất nhiên, ranh giới phân đôi này sẽ bị nhòe mờ đi khi trong chữ viết, nhất là chữ viết tự hình, vẫn còn mang dấu vết thẩm mỹ; và ngược lại, hình ảnh hội họa lại tồn tại như một dạng ký hiệu đặc biệt, nó vừa là sản phẩm thị giác nhưng lại phi thị giác. Có nghĩa là, nó thực mà ảo, ảo mà thực trong trò chơi vô tận của loài người.

Ngay từ thời cổ đại, Plato đã phát hiện cái con mắt ta nhìn thấy chỉ là cái ảo. Triết gia này dạy rằng thế giới trước mắt ta không khác những cái bóng in trên vách hang động mà chúng ta thì như bị xiềng xích trong cái hữu hạn của cái hang động kia, cho nên “nghệ thuật chỉ là cái bóng của cái bóng”. Khi một người học trò vẽ đi vẽ lại chân dung người mẫu vẫn không thấy giống, Plato khuyên học trò, rằng sao không vẽ giống như anh nghĩ mà lại vẽ giống như anh nhìn thấy? “Thể xác chỉ là ngôi mộ!” – Plato khuyên thế! Thuyết mô phỏng tự nhiên (mimesis) của Aristotle tưởng là duy vật một cách chân chính, nhưng thực chất không thông thái hơn so với tư tưởng của người thầy mình. Tự nhiên vốn vô tri, linh hồn là do con người cung cấp cho nó. Hegel nhấn mạnh vào linh hồn, nhưng ông lại nói, “nghệ thuật sống ở ngoại hiện”, bởi không có đường nét, màu sắc, hình khối sống động, linh hồn không có nơi trú ngụ. Suốt thời kỳ Trung đại, vắt qua thời kỳ Phục hưng và Khai sáng, cặp phạm trù thực/ảo tưởng phân minh, hóa ra thành lẫn lộn và gây không ít tranh cãi. Các bức tranh được vẽ công phu như thật mà lại không thật, bởi cái tưởng giống thật nhất cũng chỉ là cái ảo. Michelangelo nhìn thấy Chúa và Adam bao giờ mà vẽ Chúa tạo ra Adam như thật? Thật phí công Leonard de Vinci lén lút trong các nhà mồ để giải phẫu các xác chết, xác định chính xác tỉ lệ từng bộ phận, cơ, xương của cơ thể người. Và cũng thật phí công khi hội họa đặt ra luật tỷ lệ, gần xa, sáng tối làm tiêu chuẩn kỹ thuật. Bởi đến lúc người ta nhận ra nghệ thuật thị giác thật thừa thãi khi chiếc máy ảnh với tấm phim mô phỏng võng mạc của con mắt ra đời với những ảnh chụp “chính xác” như con mắt ta nhìn thấy. Chính nhiếp ảnh ra đời đã đe dọa sự tồn vong của hội họa như là thứ nghệ thuật thị giác đặc thù, nó từng tuyên bố cáo chung thứ nghệ thuật thị giác, kể cả lý luận xem tri giác là thực!

Nhà sư Tây Tạng khi luyện Yoga nói, hãy nhắm mắt lại để nhìn ra sự thực. Hóa ra có một con mắt khác ở trái tim nhìn thế giới sâu xa hơn con mắt thường tình. A. Einstein nói, thế giới hiện ra trước mắt chúng ta như chúng ta nghĩ hơn là như nó vốn có. Thì hàng ngày chúng ta vẫn thấy Mặt trời đi từ Đông sang Tây, đường chân trời như cái vạch thẳng băng, vẫn thấy lá màu xanh, hoa có đủ các sắc màu. Nhưng quả con mắt đã lừa suy nghĩ chúng ta, vì nó chỉ là ô cửa nhỏ hẹp nhìn ra thế giới mênh mông, cả vi mô lẫn vĩ mô. Rốt cuộc, khoái lạc thị giác là thứ khoái lạc ảo, khoái lạc tầm thường, thậm chí cầm tù tư duy của chúng ta?

Chủ nghĩa Cổ điển hay tả thực theo lối mô phỏng thị giác tưởng là sống động thành ra minh họa cho lý thuyết “nghệ thuật chết” của Hegel. Nhưng ngược lại, những thay đổi trừu tượng đến mức phi thị giác lại càng làm cho phán quyết “nghệ thuật chết” thêm có lý. Đó là lý do nghệ sĩ nỗ lực không mệt mỏi chống lại “cái chết” của mình. Nghệ sĩ Ấn tượng chống lại thứ màu sắc, đường nét đã bị khúc xạ và hòa tan bởi thị giác thường tình để vươn đến siêu thị giác: trả lại nguyên chất đường nét, màu sắc. Nó nhất quyết không mượn cái ngoại hiện trần thế để minh họa, mô phỏng cho thế giới của huyền thoại hay tôn giáo ở trên trời. Hình ảnh những anh nông dân thô ráp trên cánh đồng, thậm chí một đôi giày cũ kỹ bị vứt bỏ mà Van Gogh chộp lấy là những tác phẩm đầy ấn tượng như tên gọi của một trào lưu. Chủ nghĩa Biểu hiện bất chấp tỉ lệ, gần xa, sáng tối của hình thể bên ngoài để chiếm lấy linh hồn bên trong. Một nỗi buồn, niềm vui, đau khổ, hạnh phúc, thậm chí là nỗi sợ hãi tột cùng trước Tiếng thét vang động của Munch… Đó mới là sự thực và chính cái phần linh hồn sống động ấy làm biến dạng, méo mó hình thể để mang lại cuộc hòa điệu đầy khoái cảm giữa bên trong và bên ngoài, giữa sáng tạo và thưởng thức. Khái niệm siêu thực (surreal) ra đời với nghĩa “thực hơn cả sự thực” của chủ nghĩa Siêu thực đã chống lại quyết liệt thứ ảo giác của thị giác. Thì ra những cái chúng ta không thể nhìn thấy mới là sự thực, nó tồn tại phi hình thể bên ngoài chúng ta nhưng lại hiển hiện thành hình thể bên trong chúng ta và có sức mạnh thôi thúc chúng ta như là sự trỗi dậy của vô thức. Tại sao cái tẩu thuốc được vẽ như thật lại được Magritte ghi chú Đây không phải là cái tẩu thuốc? Thì ra nó chỉ là hình ảnh của sự tưởng tượng. Mọi thứ chỉ có thể che con mắt, không che được tưởng tượng. Cái gì đang giấu trong chiếc váy của người phụ nữ? Magritte giễu cợt thị giác để kích thích cái phi thị giác tưởng chừng bí ẩn nhưng lồ lộ bằng màu sắc, hình khối chập chờn đang khiêu khích bên trong. Và cuối cùng không thể tưởng tượng nổi khi Cézanne tuyên bố hãy trả lại thế giới nguyên sơ bằng cấu tạo của những khối hình học, hình tam giác, hình cầu, hình tròn, hình trụ, hình nón… Chủ nghĩa Lập thể gắn với tên tuổi Picasso, người bị xem là “con quỷ phá rối nghệ thuật” lại là người tấn công quyết liệt vào thứ khoái lạc thị giác tầm thường tạo ra cách tân mạnh mẽ nhất để cứu sống nghệ thuật. Nó phi thị giác đến mức, không có cái nhìn nào chiếm được thế giới bằng tất cả các chiều kích không gian! Hơn nữa cái nhìn ấy chỉ làm cho thế giới trở thành kinh dị. Thật đáng thương cho những người tình – người mẫu của ông bị cái nhìn đa chiều làm biến dạng một cách thảm hại. Sự thực không như con mắt chúng ta nhìn thấy? Nhưng rồi Picasso đúng, đúng đến mức lời tuyên bố về “cái nhìn đa chiều” của chủ nghĩa Hậu hiện đại phải mượn những tác phẩm Picasso ra làm chứng!

Và cuối cùng, sau giờ phút nhìn ánh mặt trời, nhìn cỏ cây hoa lá, nhìn những người thân quen bằng tất cả khoái lạc của thị giác, chúng ta hãy nghe lời nhà sư Tây Tạng nhắm mắt lại. Có gì trong chúng ta không? Có rất nhiều. Trong bóng tối sâu thẳm bởi vách ngăn của mi mắt, có vô số những dư ảnh. Mặc dù nó nhòe mờ đến trừu tượng nhưng tất cả những ấn tượng màu sắc, đường nét vẫn lung linh sống động trong não chúng ta. Rõ ràng, cái sản phẩm của thị giác đã được nhào nặn, tiêu hóa và sinh sôi, nó hiển hiện và biến ảo bằng nhiều đường nét, màu sắc khác. Thế giới càng lung linh sống động hơn bởi chính tinh thần chủ thể của chúng ta. Trừu tượng mà không trừu tượng, vẫn là khoái lạc thị giác, nhưng là siêu thị giác, các tác phẩm của Kandinsky đã mở ra cả một chân trời của hội họa. Nghệ thuật không chết bởi sáng tạo là vô hạn. Mỗi tác phẩm hội họa vẫn là một bản nhạc vang lên bằng thứ âm thanh hòa điệu của đường nét, màu sắc. Nhưng nó đang nỗ lực vượt qua ảo giác của võng mạc hay chiếc phim của máy ảnh. Nó đang thách thức thị giác của sự thưởng thức thông thường. Nó thoát khỏi sự cầm tù của thị giác và đang vươn đến chiều sâu của chủ thể trên tinh thần tự do, khai phóng.

Vẫn chưa phải là cuối cùng, vào thế kỷ chúng ta đang sống, khi cái bồn tiểu hay cái vòi nước ở bãi rác lại nhảy vào chiếm chỗ không gian trưng bày nghệ thuật. Cái gì vậy? Nó là nghệ thuật ư? Ừ thì nó tầm thường nhưng nó lại chứa đựng sự cao siêu, vì ở cái hình ảnh đơn giản ấy có cả lịch sử mỹ thuật nhân loại. Tầm thường vì thường ngày, cái bồn tiểu là để tiểu, cái vòi nước là để xả nước. Khi sử dụng những thứ đó, ta đã quên chúng được làm ra như thế nào. Chức năng thực dụng đã lấn át chức năng thẩm mỹ. Chẳng phải Marx, Engels từng nói, tất cả những gì do con người làm ra đều theo quy luật của cái đẹp? Một công cụ bằng đá của người nguyên thủy cho đến một vật dụng hàng ngày hôm nay của chúng ta đều là sản phẩm của ý thức sáng tạo, không chỉ để tiêu dùng mà còn để mang lại khoái cảm. Khi Duchamp ghi dưới cái bồn tiểu đã được cạo rửa sạch sẽ một dòng chữ nghiêm trang “cấm tiểu”, toàn bộ chức năng thẩm mỹ của nó đã được phục nguyên. Nghệ thuật trưng bày hậu hiện đại giễu cợt sự cầu kỳ vô nghĩa để quay về với sự giản dị đầy ý nghĩa mà nhân loại đã từng làm và làm ở ngay trong những vật dụng hàng ngày.

Nghệ thuật trưng bày hay sắp đặt đã chuyển thị giác từ mặt phẳng sang không gian đa chiều. Vị trí trong không gian, bố cục của các hình khối dưới tác động của ánh sáng hư hư thực thực làm thay đổi hẳn giá trị và ý nghĩa của vật trưng bày. Cái bị vứt bỏ như một thể xác trong ngôi mộ được hoàn sinh sống động trong thế giới mới.

Nghệ thuật vận động trong khuynh hướng đi tìm những mới lạ, khác biệt. Trường phái này chống trường phái kia không đồng nghĩa với sự phủ định lẫn nhau mà càng tạo ra tính đa dạng của nghệ thuật.

Mỹ thuật Việt Nam và mỹ thuật Bình Định đang có gì và đang làm gì? Chừng như nhờ đi tắt đón đầu, chúng ta có tất cả. Thật vui mừng trong các cuộc triển lãm trên đất nước và quê hương chúng ta, những gì sống động nhất của nghệ thuật thế giới gần như có mặt để cộng hưởng với mỹ thuật phương Đông truyền thống tồn tại cả ngàn năm. Mỹ thuật Việt Nam đa trường phái, kế thừa, kết tinh toàn bộ tinh hoa của mỹ thuật nhân loại và cũng đầy sáng tạo. Nhiều bức tranh lung linh, sống động đường nét, sắc màu và sâu sắc, mênh mông ý tưởng. Nhưng hình như vẫn thiếu một thứ: cái nhịp cầu nối liền sáng tạo và thưởng thức. Chưa có một đề dẫn nào phổ cập để dẫn dắt công chúng vào khoái lạc thị giác sâu xa hơn sự thưởng thức nghệ thuật quen thuộc của con mắt đời thường. Đa phần khoái lạc thị giác của nghệ sỹ trở thành hụt hẫng trước cái nhìn ngơ ngác của công chúng.

                                                                                                    CMH

Bài đã đăng trên Văn nghệ Bình Định số 61, tháng 5 năm 2018, tr.56.

————————-

Hình minh họa:

  1. Đôi giày, tranh Van Gogh
  2. Chiếc váy và đôi guốc, tranh Magritte
  3. Tiếng thét, tranh Edvard Munch
  4. Phụ nữ và chiếc quạt, tranh Picasso
  5. Tranh trừu tượng của Kandinsky
  6. Trên từng lát cá của Lê Trọng Nghĩa.

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.