Vì sao trẻ em thích đồng thoại?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Chu Mộng Long: Vì sao trẻ em thích đồng thoại? Bởi vì trẻ em tìm thấy chính mình trong thế giới loài vật. Nhiều bài viết về đồng thoại từng đặt ra câu hỏi và cách trả lời đó nhưng vẫn để ngỏ như một vấn đề quan trọng của lý luận phê bình.

Theo tôi, câu hỏi và câu trả lời này tự nó định hướng sáng tác và định hình một thể loại văn học rất đặc thù của bộ phận văn học thiếu nhi. Đồng thoại nguyên nghĩa là kể chuyện cho trẻ em. Loại truyện này kế thừa từ dân gian gồm những mẩu chuyện viết về loài vật, vừa miêu tả đặc điểm tự nhiên của giống loài vừa chứa đựng tâm hồn của trẻ em, nhằm khơi gợi ở trẻ em cả hai hứng thú: khám phá tự nhiên và khám phá chính mình. Không phải ngẫu nhiên mà bên cạnh cổ tích người lớn, dân gian đã tạo ra một thể loại văn học dành riêng cho trẻ em, thường gọi là “cổ tích loài vật”. Thực chất “cổ tích loài vật” không theo khuôn mẫu của cổ tích với tư cách cùng thể loại, nó là đồng thoại đúng nghĩa với tư cách là truyện cho trẻ em. Việc lấy trẻ em làm trung tâm đã phá bỏ mọi sự áp đặt của người lớn để vươn đến tinh thần khai phóng: mỗi câu chuyện mở ra một chân trời khám phá và mộng mơ cho trẻ em. Cái chân trời đó làm cho thể loại không đông cứng mà mở ra vô hạn trong sáng tạo và tiếp nhận thẩm mỹ.

Chừng như nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn tự đặt mình thành trung tâm và chỉ đưa ra câu hỏi cho chính mình: viết đồng thoại như thế nào để giáo dục trẻ em? Hiển nhiên, họ có đặt vấn đề phải viết cho trẻ em thích nhưng cái mục tiêu giáo dục kia đã làm cho sở thích của người lớn áp đặt lên sở thích của trẻ em. Sự áp đặt này xuất phát từ định kiến xem trẻ em là động vật và cuối cùng người ta buộc phải đi đến mục tiêu “thuần hóa” trẻ em, buộc trẻ em phải làm theo người lớn. Nội dung giáo huấn ít nhiều tồn tại như một thứ công thức trong lý luận lẫn sáng tác. Hậu quả là, hình tượng không tiêu hóa tư tưởng mà minh họa cho tư tưởng; văn học không nuôi dưỡng, khai phóng tâm hồn con trẻ mà nhốt tâm hồn con trẻ vào khuôn mẫu định sẵn.

Đồng thoại ở Việt Nam do đó trở thành một thể loại dao động chênh vênh giữa cổ tích với ngụ ngôn, giữa nghệ thuật và bài học luân lý mà ít có những đồng thoại đúng nghĩa.

Trong hơn một nghìn tác phẩm đồng thoại mà tác giả Lê Nhật Ký thống kê và khảo sát trong công trình Truyện đồng thoại trong văn học Việt Nam hiện đại, tôi tin còn lại không nhiều những tác phẩm sống được trong lòng bạn đọc.

Việc xem trẻ em như là loài vật dẫn đến đồng hóa một cách dễ dãi hoạt động của trẻ em với thế giới loài vật. Có những tác phẩm đã vật hóa trẻ em với cái nhìn ấy. Trẻ em không còn là một chủ thể của đời sống mà thành đối tượng được mô tả như sinh vật hoang dã. Ở cách nhìn này, người ta chỉ thấy trẻ em có những dấu hiệu hư hỏng. Họ coi sự nghịch ngợm phá phách của trẻ em là có hại hơn là chỉ dấu của sự khám phá thông minh. Không ít nhà văn gán cho trẻ em những loài vật như chuột, gián, sâu bọ… để giễu cợt. Trong khi ở chiều hướng ngược lại, tưởng hợp lý nhưng cực đoan hơn, đa số tác phẩm lại nhân hóa loài vật, xem loài vật như là con người. Loài vật mất hẳn đặc điểm tự nhiên mà trở thành phương tiện minh họa cho xã hội loài người. Ở cách nhìn này, thế giới loài vật bị phân đôi thành thiện/ ác, tốt/ xấu để minh họa cho những bài học luân lý. Trẻ em chỉ nhìn thấy ở đó thế giới của người lớn hơn là cuộc sống của chính mình. Theo tôi, cả hai phương thức vật hóanhân hóa đều làm cho đồng thoại không còn là đồng thoại với tư cách là truyện cho trẻ em mà là truyện người lớn áp đặt cho trẻ em. Đồng thoại, trong cách viết đó, chỉ lấy nhân vật loài vật làm ranh giới thể loại, còn bản chất không khác cổ tích và ngụ ngôn.

Sự thật, đồng thoại chính hiệu không vật hóa trẻ em, cũng không nhân hóa loài vật như là thủ pháp. Bởi trẻ em và loài vật là khác biệt, không thể áp đặt một cách khiên cưỡng. Những tác phẩm đạt đến bản chất sâu sắc của thể loại khi và chỉ khi tác giả tìm thấy quan hệ tương giao giữa vật và người để xây dựng một thế giới hòa điệu của những khác biệt. Tìm thấy sự tương giao ấy, theo H. Bergson, là nhờ trực giác. Trực giác xóa đi vách ngăn giữa người và vật, giữa ta và cái khác, nó biến cái tưởng chừng vô tri vô giác thành những sinh thể có hồn, cái thực dụng thành hồn nhiên vô tư để cất lên tiếng nói hòa điệu. Năng lực này phát triển mạnh ở trẻ em, yếu dần và có thể mất hẳn ở người lớn. Nhà văn sáng tác đồng thoại như là trở lại tuổi thơ của chính mình để tìm thấy sự tương giao ấy.

Triết gia Kant từng nói: tự nhiên không đẹp không xấu, không thiện không ác. Tự nhiên chỉ tồn tại bình đẳng trong sự đa dạng của nó. Sự phân biệt đẹp/ xấu, thiện/ác là do kinh nghiệm thực dụng chi phối và trở thành định kiến của người lớn. Chẳng hạn, mèo đẹp, thiện/chuột xấu, ác, chim đẹp, thiện/sâu bọ xấu, ác… là sản phẩm của tư duy lợi ích. Chính lối tư duy này đã hình thành nên xung đột giữa người và vật, và cũng từ đó vạch ra khoảng cách giữa người lớn và trẻ em. Trong khi trẻ em, bằng cái nhìn tiên nghiệm (a priori), nhận thức mà theo Kant là hoàn toàn vô tư và khách quan, mèo và chuột, chim và sâu bọ là bình đẳng. Ranh giới đối lập nhị phân tốt/xấu, thiện/ác không tồn tại trong cái nhìn của trẻ em. Ngoài hóa giải quan hệ thù địch thành quan hệ tinh nghịch giữa Mèo và Chuột, tôi thích một cảnh trong Tom và Jerry, bọn chó mèo già choảng nhau rồi cấm chó con, mèo con chơi với nhau, nhưng rốt cuộc bọn trẻ con ấy vẫn lén lút chơi với nhau. Miếng ăn, danh vọng và quyền lực gây xung đột, còn trò chơi mang lại sự hòa điệu. Vẻ đẹp thẩm mỹ cao nhất nằm trong nguyên lý hòa điệu những khác biệt. Những tác phẩm như Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, Chú lính chì dũng cảm của Andersen, Tom và Jerry của Hanna và Barbera, Hãy đợi đấy của Kotyonochkin… được xem là kiệt tác hấp dẫn trẻ em ở mọi thời đại và mọi chủng tộc vì các tác giả tuân thủ nguyên lý hòa điệu ấy. Một số sáng tác đồng thoại của Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Quỳnh, Võ Quảng… sống được với thời gian nhờ xóa đi khoảng cách giữa trẻ em và loài vật, giữa người lớn và trẻ em để đi đến sự hòa điệu trong bản đại hòa tấu của vũ trụ. Trong các tác phẩm này, hình tượng nghệ thuật là loài vật tự nó đi trên cả hai đôi chân: hiện thực của tự nhiên và mộng tưởng của tuổi thơ. Các đặc điểm của loài vật được miêu tả một cách sống động như nó vốn có đồng thời lại mang tâm hồn, tính cách tuổi thơ. Hai đối tượng tưởng chừng khác biệt mà vẫn gắn kết với nhau trong một sinh thể, bởi cả hai đều hồn nhiên như chính thế giới tự nhiên của chúng.

Hòa điệu giữa người và vật kéo theo hòa điệu giữa người lớn và trẻ em là hạt nhân cấu trúc của đồng thoại. Tất cả các thủ pháp về không gian, thời gian, cốt truyện, tình tiết, ngôn ngữ chỉ còn là phương tiện phục vụ cho nguyên lý hòa điệu của một thể loại đặc thù có tên gọi là đồng thoại.

Giáo dục là điều không thể thiếu trong đồng thoại ư? Tôi tin rằng, giáo dục cao nhất trong đồng thoại nằm ở chính sự hòa điệu giữa người và vật, giữa người lớn và trẻ em chứ không phải những bài học luân lý do người lớn từng kiến tạo trong lịch sử văn hóa, xã hội loài người. Yêu thiên nhiên, yêu loài vật như yêu chính mình là đạo đức và văn hóa cao nhất mà tạo hóa đã ban phát cho trẻ em nhưng khi lớn lên con người đã đánh mất bởi lối sống thực dụng của nền văn minh vật chất. Đồng thoại đúng nghĩa không răn dạy trẻ em mà trả lại cho trẻ em vẻ đẹp nguyên sơ tạo hóa đã ban cho loài người. Và như vậy, theo tôi, đồng thoại viết cho trẻ em nhưng lại có tác dụng ngược: chính hình tượng loài-vật-trẻ-em đã giáo dục người lớn, giúp người lớn trở về với tuổi thơ và cũng là trở về với tự nhiên như tìm về với cội nguồn. Quả nhiên, chính khi chơi đùa với trẻ thơ, soi mình vào tấm gương tự nhiên của cỏ cây, vạn vật, những toan tính thực dụng của cuộc sống đời thường tự động được thanh lọc và giúp chúng ta thoát khỏi trạng thái vô minh.

Tôi tin đồng thoại sẽ là cảm hứng của sáng tác văn học xanh (Green writing) và là đối tượng chính của Phê bình sinh thái (Ecocriticism). Trào lưu này đang nở rộ ở Mỹ và trở thành trào lưu toàn cầu. Đến lúc cần phản tư chủ nghĩa lấy nhân loại làm trung tâm (anthropocentrism), xác lập lại quan hệ cộng sinh giữa con người và tự nhiên để giải quyết mọi xung đột đang diễn ra khi con người ngày một chạy đuổi theo tham vọng thống trị tự nhiên dẫn đến nguy cơ sinh thái toàn cầu.

Sáng tác đồng thoại tưởng dễ nhưng thành công rất khó, bởi sự tương giao vô hình giữa loài vật và trẻ em, giữa tự nhiên và con người là cả một cõi bí ẩn. Làm cách nào để nhân loại nhìn thấy một cái cây, một con vật, thậm chí một chiếc bút, một viên phấn… đều là một phần hồn, thậm chí là sinh mệnh của con người để nhân loại không bị chết khô trong những đòi hỏi xác thịt, không bị mắc tội tàn phá tự nhiên và ruồng bỏ cội nguồn. Đó mới là thiên chức lớn lao của đồng thoại. Chừng như không có nhà văn nào có thể chuyên viết đồng thoại với độ dày sáng tác thành công để được gọi là nhà văn đồng thoại. Cái thế giới bí ẩn ấy, nhà văn chỉ thâm nhập được trong trạng thái xuất thần nhờ cái duyên nào đó. Và tôi tin chắc, khi bén duyên với đồng thoại, nhà văn vô cùng hạnh phúc vì được tìm thấy bản lai diện mục của mình.

Trẻ em thích đồng thoại vì đồng thoại là chuyện tuổi thơ của loài người trước khi tuổi thơ ấy bị những toan tính của cuộc đời đánh cắp và rơi vào trạng thái vô minh.

Quy Nhơn, 20/10/2017

                                                                                    CML

—————-

Bài đã đăng trên Văn nghệ Bình Định số 55 tháng 11, năm 2017, tr.56-59

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.