Khảo cổ học văn hóa Tràng An

Chuẩn

Quốc Tử Giám, biểu tượng Hà Nội thanh lịch

Quốc Tử Giám, biểu tượng Hà Nội thanh lịch

Chu Mộng Long – Không phủ nhận Hà Nội đang phát triển. Như một tất yếu của biện chứng khách quan, tiến hóa luôn song song với thoái hóa. Hà Nội phải trả giá trên con đường hiện đại hóa. Nhưng điều đáng nói là người ta cố gán cho “Hà Nội thanh lịch”, “Hà Nội nghìn năm văn hiến” để che đậy sự thực đã và đang diễn ra. Hà Nội cũng như mọi đô thị khác, tinh hoa có, cặn bã có. Khi cố tình dùng huyền thoại bao bọc sự thực, sự phát triển của nó sẽ trở nên lệch lạc, méo mó. Đến lúc cần giải bỏ mọi huyền thoại để Hà Nội phát triển một cách tự nhiên.

Tự nhiên vẫn xinh đẹp ngay cả khi nó sinh ra con quái vật (K. Marx).

Loạt bài Khảo cổ học văn hóa Tràng An này có thể làm cho nhiều người sốc. Nhưng có sốc mới có sự thức tỉnh để vươn đến tự do khai phóng bằng chính dân trí, dân khí của mình.

———————————————————–

1. Văn hóa và bản năng – Từ chuyện hỗn loạn ở công viên nước

Cảnh chen lấn hỗn loạn của công viên nước Hồ Tây

Cảnh chen lấn hỗn loạn của công viên nước Hồ Tây

“Trong số những người hôm nay, tôi nghĩ có nhiều người đã từng xếp hàng rất ngay ngắn hàng giờ để viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp và khóc. Vậy thì có đáng lên án họ không, khi ở hoàn cảnh này, họ có những hành động rất bản năng, nhưng ở hoàn cảnh khác họ lại rất văn hóa và đáng trân trọng?” – Nguyễn Thị Thu Huệ chia sẻ trên FB sau khi diễn ra cảnh hỗn loạn ở công viên nước Hồ Tây.

Thân là một nhà văn, biên kịch điện ảnh mà thiếu hiểu biết về văn hóa như vậy thì chất lượng tác phẩm đến đâu? Văn hóa là cái vỏ bọc nhân tạo, bản năng là cái ruột, thuộc tự nhiên, bà Nguyễn Thị Thu Huệ ạ! Đố bà biết cái nào thật hơn cái nào?

Khi cái vỏ văn hóa có giá trị làm chủ, bảo vệ, điều chỉnh cái ruột bản năng, bắt cái ruột bản năng phải phục tùng trong mọi hoàn cảnh, đó là văn hóa thật. Còn cái vỏ văn hóa không làm chủ được điều đó, ở hoàn cảnh này nó che giấu mọi thứ để tỏ ra thanh lịch hào hoa, ở hoàn cảnh khác nó lại thả cửa cho sự tham lam, bần tiện, thì đó là cái văn hóa đểu giả, cái vỏ rách!

Người Hà Nội xếp hàng ngay ngắn viếng đại tướng Võ Nguyên Giáp

Người Hà Nội xếp hàng ngay ngắn viếng đại tướng Võ Nguyên Giáp

Tôi không nghiêm khắc trong cuộc sống đời thường bởi tôi không thích sự lí tưởng hóa con người, nhưng đã nói đến văn hóa thì phải nghiêm khắc. Bởi vì, văn hóa là cái dễ bị lợi dụng và lạm dụng nhất!

Thà là chỉ có ruột, không cần vỏ. Như mấy anh nông dân trong đời thường, trong văn của Nam Cao, trong văn Nguyễn Huy Thiệp ấy, dù hư hỏng nhưng chân thực, có khi còn dễ thương hơn!

Bình về chuyện này, có lẽ nên học dân gian. Dân gian đủ khôn khi hình tượng hóa qua những chuyện như Thầy đồ liếm mật, Tam đại con gà, Nhặt xương thầy, Quan huyện thanh liêm… để nói về văn hóa – đạo đức đểu – giả của bọn trưởng giả.

Riêng cái câu: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” mà người Hà Nội hay khoe để lòe, tôi không tin là dân gian ngợi ca văn hóa Hà Thành. Tôi vẫn nghi đó là câu giễu cợt thứ văn hóa đểu. Tôi sẽ phân tích câu ca dao này ở phần sau.

Bún mắng cháo chửi

Bún mắng cháo chửi

2. Văn hóa vỉa hè, công viên – Bún mắng cháo chửi

Chính quyền Hà Nội đang chủ trương “xóa sổ bún mắng cháo chửi” vì thể diện. Liệu có được chăng?

Quy luật thị trường có cầu ắt có cung. Bất cứ sự sản xuất nào cũng định hướng phục vụ cho một nhu cầu tiêu thụ nhất định. Bún mắng cháo chửi ra đời và tồn tại được nhờ khách hàng của nó. Ai không thích thì tùy nghi di tản. Chỉ khi không còn ai thích thì bún mắng cháo chửi tự nó giải tán. Thị trường tự do luôn tự điều chỉnh hoặc tự đào thải theo lẽ tự nhiên.

Cho bún mắng cháo chửi “xúc phạm khách hàng” ư? Rất nhiều người thích được nghe mắng chửi như nghe hát thì sao?

Chủ trương giải tán bún mắng cháo chửi khác nào cắt đứt nhu cầu khách hàng của nó. Mà lượng khách hàng này không phải ít. Bằng chứng, từ khi được quảng bá nhờ CNN, bún mắng cháo chửi càng đông khách. Rất đông. Phải xếp hàng dài mới đến lượt. Không phải vì tò mò mà vì người Hà Nội xem chửi mắng và được nghe chửi mắng như thứ gia vị tinh thần cho món ăn vật chất hàng ngày của họ.

Xếp hàng ăn cháo chửi

Xếp hàng ăn cháo chửi

Ẩm thực đối với con người khác với động vật ở chỗ, không chỉ thỏa mãn nhu cầu vật chất mà còn là nhu cầu tinh thần. Có khi nhờ có mắng, chửi mà bún, cháo của các cửa hàng này trở nên ngon hơn đối với thực khách!

Gọi bún mắng cháo chửi là vô văn hóa ư? Chưa chắc. Có khi mắng chửi là thương hiệu của mảnh đất nghìn năm văn hiến cũng nên. Ai ra Hà Nội đi dạo phố, hỏi đường hay mua hàng, nếu chưa bị mắng chửi một lần coi như chưa đến thủ đô.

Văn hóa không bao giờ là một trung tâm duy nhất. Có văn hóa trang nghiêm ắt có văn hóa hài hước, có thanh lịch ắt có thô lỗ. Cấm văng tục, nói bậy ở công sở thì được chứ không thể nào cấm văng tục, nói bậy ở vỉa hè, công viên, quảng trường. Bún mắng cháo chửi thuộc văn hóa vỉa hè, công viên, quảng trường. Một người bạn của tôi ở Hà Thành nói rất thật: “nhậu mà đéo văng tục đéo sướng!”.

Mắng chửi, văng tục là một cách xả stress để cân bằng với sự trịnh trọng, trang nghiêm trong công việc hàng ngày. Chủ trương cấm món ăn tinh thần này là một sai lầm nghiêm trọng. Theo phân tâm học, cấm kị những nhu cầu tự nhiên chỉ gây ức chế và tạo mầm nổi loạn.

Tôi nghĩ chính quyền có nhiều điều phải làm hơn là đòi giải tán cái món bún mắng cháo chửi đang tồn tại như là văn hóa trào tiếu của nhóm thị dân kia. Không phải cứ thủ đô là thuần chất một thứ văn hóa trịnh trọng, nghiêm trang, thanh lịch. Chiếc mặt nạ văn hóa tự thổi phồng một cách trang nghiêm, trịnh trọng, thanh lịch giả tạo lâu nay đến lúc gỡ bỏ như một khuynh hướng của sự tự do dân chủ. Cái đáng làm hiện nay là cấm những hoạt động vô văn hóa đang được ngụy danh văn hóa như cầu cúng đồng bóng, mua thần bán thánh, quà cáp biếu xén, kể cả những lễ hội man di như tranh cướp, chém heo, đâm trâu… mà thế giới văn minh đang lên án mạnh mẽ.

trang-an-23. Giải thiêng từ một câu ca dao

Tràng An là địa danh gốc Tàu, sau Lý Thái Tổ cho “di cư” sang nước Nam và gán cho cố đô Hoa Lư của nhà Đinh, Lê ở Ninh Bình. Người Hà Nội ăn theo, vì sống ở đất kinh đô nên tự nhận mình cũng là người Tràng An. Thấy sang thì cứ bắt quàng… là của mình, dù sâu xa là của “người lạ”. Người Việt ta nó thế, không chấp làm gì.

Về mặt kí hiệu, cứ coi Tràng An là địa danh mang nghĩa chung cho đất kinh đô cũng được. Duy chỉ có điều, cái câu ca dao: Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An được xem là bài ca đầy niềm tự hào của con người đất kinh đô văn hiến thì phải xem lại.

Ở bài “Văn hóa và bản năng”, tôi đã đặt vấn đề, đó là câu giễu cợt, mỉa mai; ở đây tôi nói thêm, không chỉ giễu cợt, mỉa mai mà còn bóc trần sự đểu giả.

Người ta chỉ căn cứ hời hợt vào bề mặt của ngôn từ nên vơ đại vào tâm trí của mình rằng đó là niềm tự hào của mảnh đất nghìn năm văn hiến.

Tranh cướp, hỗn chiến tại các lễ hội

Tranh cướp, hỗn chiến tại các lễ hội

Do cấu trúc câu ca dao tổ chức theo phép loại suy, giữa “thơm” và “thanh lịch”, giữa “hoa nhài” và “người Tràng An” được đặt trong mối quan hệ tương tự, cho nên người ta dễ nhầm tưởng là tự hào, ngợi ca về một sự hào hoa sang trọng. Trong khi, nếu hào hoa sang trọng thật sự người ta đã không dùng đến 2 lần phủ định: “chẳng thơm”, “không thanh lịch” và đặt trong các mệnh đề nước đôi, đối nghịch: “chẳng… cũng thể…”, “dẫu” (dù, dầu)… cũng…” làm cho sự tự hào ngợi ca kia chỉ còn là cái vỏ che đậy một sự xấu hổ, đáng chê trách khi bản chất của nó không tương xứng với cái vỏ hào hoa sang trọng kia.

Mô hình cú pháp – ngữ nghĩa của câu ca dao là: Dẫu không A cũng được tiếng B, trong đó A vốn mặc định là phẩm chất của B. A là cái ruột, B là cái vỏ.

Khi đã phủ định “không A” thì rõ ràng B chỉ còn là cái vỏ rỗng! Cái ruột thực tại đã hỏng cho nên phải ăn mày cái vỏ quá khứ để che đậy.

Như ở lần trước, khi đối thoại với nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ về vụ hỗn loạn ở công viên nước, tôi xem văn hóa chỉ là cái vỏ, nó chỉ có giá trị thật khi nó làm đẹp bằng cách bảo vệ, điều chỉnh cái ruột bản năng. Còn nó không làm tròn chức năng ấy, để cái ruột bản năng phô bày ra mọi sự bẩn thỉu thì đó chỉ có thể là cái vỏ rỗng, vỏ rách.

Tranh cướp, hỗn chiến tại các lễ hội

Tranh cướp, hỗn chiến tại các lễ hội

Không thơm thì là thối, không thanh lịch thì là thô lỗ, chỉ khác là người ta đã dùng nhã ngữ cho một hiện tượng không nhã – dung tục.

Thì ra thứ hoa nhài đó là hoa đã tàn, đã rữa. Chưa nói, người ta còn liên tưởng đến cái thân phận cắm bãi cứt trâu của nó!!!

Lỗi tại ẩn dụ và lối dùng mĩ từ, nhã ngữ của thi ca. Như ở bài “Vì sao thơ dùng ẩn dụ” (tại đây) tôi đã nói, ẩn dụ và kèm theo nó là mĩ từ, nhã ngữ là một cách đánh đĩ ngôn từ, không nói thẳng vào sự thật mà nói né, nói tránh, nói vòng, nói cho vừa lòng người, nên người ta dễ nhầm lẫn, rằng đó là câu ca dao ngợi ca vẻ đẹp văn hóa kinh đô!

Đến đây thì nói thẳng đuột theo cách của dân gian cho nó gọn: Có tiếng mà không có miếng. Sự thanh lịch của kinh đô chỉ là giả tạo – văn hóa đểu! Do tương kế tựu kế, câu ca dao dân gian kia phải đánh đĩ cho vừa với đối tượng đĩ như một “chiến lược diễn ngôn”.

Vì sao có hiện tượng Tràng An mang cái vỏ văn hóa rỗng, rách như thế?

Có thể, trong những thời kì hoàng kim nào đó của một triều đại, kinh đô là mảnh đất thanh lịch thật. Bởi vì, đây là nơi tập trung những tinh hoa của đất nước. Vua quan xưa, dù có gốc gác bần tiện, nhưng khi bước chân vào thế giới quý tộc đều phải tự gột xà phòng thơm cho mình bằng những nghi thức, lễ giáo. Vì thế, dẫu bản tính không thanh lịch, hào hoa cũng phải học cách sống thanh lịch, hào hoa. Kinh đô thành trung tâm văn hóa và mang tiếng thơm là thế.

Cúng tế vàng mã hàng trăm triệu đồng tại các đền chùa

Cúng tế vàng mã hàng trăm triệu đồng tại các đền chùa

Nhưng trong những thời mạt vận, vua quan ăn chơi sa đọa, cái vỏ văn hóa ấy sẽ thành cái vỏ rách không đủ che đậy cái hố xí hai ngăn bốc mùi. Điều đáng sợ là nhiều kẻ vẫn mượn cái vỏ ấy để lòe đời, rằng dẫu thối thì vẫn là cái thối của sự hào hoa, thanh lịch.

Nhớ thời tôi đi học cao học, cùng phòng có một số bạn xứ Thanh. Họ giới thiệu nhau là đồng hương một cách niềm nở, bỗng trong số ấy có người giãy nảy lên rằng, cha mẹ tôi xứ Thanh nhưng tôi sinh ra và lớn lên ở đất Hà thành. Anh ta làm như cứt Hà thành thơm hơn cứt xứ Thanh vậy!

Có nhiều người Hà Nội cho mình là trung tâm của đất nước, dân tộc, cho nên lúc nào cũng nghểnh đầu tự hào: người Hà Nội. Nhiều người còn quy mọi cặn bã ở đây là do dân “tỉnh lẻ” hay “nhà quê” mang đến. Họ kì thị đến mức biến nơi khác thành mọi rợ!

Cho nên mới có kẻ biện bạch, rằng người ở đất văn vật dẫu có cướp thì cũng là cướp văn hóa, có tranh nhau, chà đạp nhau, xé xác nhau đến không còn mảnh vải che thân vẫn là tranh chấp có văn hóa.

Đấy, đúng như bà Nguyễn Thị Thu Huệ nói, người Hà Nội từng xếp hàng viếng cụ Giáp một cách đoan nghiêm thì dẫu có việc tranh nhau trèo rào vào công viên nước, xé quần nhau xem bướm giữa thanh thiên bạch nhật vẫn là văn hóa thanh lịch Tràng An.

Tất nhiên, tôi không vơ cả nắm dễ làm động lòng những bạn Hà Nội tử tế. Nhưng có một sự thực là, tôi ra Hà Nội, gặp người thô lỗ không hề ít. Khi họ nhờ vả gì đó thì ngọt xớt, một mời bác, hai mời bác rất thanh lịch. Đến khi mình cần họ giúp, chỉ được nhận lấy một câu tỉnh queo: Đéo biết!

Vậy là ta không phải ngạc nhiên khi nghe Hà Nội có món bún chửi nổi tiếng. Và càng không phải ngạc nhiên khi bà chủ càng chửi tục tĩu, người ăn càng đến rất đông. Chửi và nghe chửi đến một độ dày mặt nào đó, có khi người ta lại tự hào là “chửi có văn hóa”?

Tất nhiên, lập trường của tôi là, dù sao, thú chửi và ăn chửi này vẫn đáng yêu hơn, vì nó chân thực hơn cái vỏ văn hóa thanh lịch bao bọc giả tạo lâu nay!

Thanh lịch thì ở đâu chẳng có, nhưng bún mắng cháo chửi là đặc sản Tràng An, có trời cũng không cấm được! Thật đấy!

Câu ca: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”, nếu là của dân gian thì cũng thâm đến nhọ đít chứ cần gì đến nhà nho! Ít nhất, nó lừa được dân xứ lừa, đúng giống lừa thật nhưng lại tưởng mình là Rồng đang bay lên!

Bản in mộc Chiếu dời đô

Bản in mộc Chiếu dời đô

4. Giải nhị nguyên chính gốc/ ngụ cư

Một số người cứ khăng khăng người Hà Nội chính gốc thanh lịch, còn xô bồ hỗn độn là do dân ngụ cư mang đến. Trong khi họ quên rằng, chính dân “ngụ cư” mới thực sự đóng góp lớn lao cho một Hà Nội phát triển hiện đại.

Nhưng thế nào là chính gốc, thế nào là ngụ cư?

Xin nhắc lại, Tràng An (thuộc Thiểm Tây) là tên cố đô của 13 triều đại Trung Hoa, từ đời Chu đến đời Đường. Sau khi dời đô về Thăng Long một thời gian, tên Tràng An được Lý Thái Tổ chính thức đặt cho cố đô Hoa Lư để ghi công lao của 2 triều Đinh, Lê, coi như tỏ ra “khắc phục tội coi thường tiền triều”, như trong Chiếu dời đô. (Xem Đại Việt sử kí toàn thư).

Gốc Hà Nội là thành Đại La của quan thái thú Cao Biền. Do muốn dời kinh về gần Bắc Ninh quê hương mình để làm chỗ dựa tránh mầm phản loạn của dòng tộc tiền triều, Lý Thái Tổ đã bịa ra chuyện mộng thấy rồng bay lên và đặt tên là Thăng Long để củng cố triều đại họ Lý.

Chẳng có nguồn nào đáng tin cậy để bảo rằng Hà Nội là Tràng An nếu như không phải vì muốn mượn cái địa danh của Tàu như một hình thức “điển cố”, theo nghĩa của từ, để ca ngợi sự bình yên lâu dài của một vùng đất.

Nguyên chuyện dời đô của Lý Thái Tổ đã là một huyền thoại bí ẩn mới chỉ được diễn giải một chiều. Rằng đó là mảnh đất “thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế” nên Chiếu dời đô của vua “được sự đồng thuận rất cao của toàn dân”???

Nhìn địa lí Việt Nam, tôi không chắc đó là nơi trung tâm của trời đất và dựa thế rồng chầu hổ phục. Tôi nghi là họ Lý ăn theo và cả tin vào Cao Biền, như chính trong bản chiếu có nói đến, vì Cao Biền vốn nổi tiếng là nhà phong thủy, chứ đây là mảnh đất bồi, thế trũng, sâu luôn bị lũ lụt đe dọa. Nếu không thì đã không có cái con đê cao ngút được xây dựng không biết bao máu xương của bao nhiêu đời để chắn nước sông Hồng.

Và tôi cũng không chắc có sự “đồng thuận cao” của toàn dân, bởi nếu có như thế, đã không có chuyện vua Lý phải bịa ra chuyện đồng bóng nằm mơ thấy rồng bay lên để dụ dân, lôi kéo dân đi theo!

Hình ảnh hầu đồng

Hình ảnh hầu đồng

Khi tiếp nhận huyền thoại Cao Biền, người ta đã quên một điều rằng, Cao Biền đã trảm núi và yểm bùa các long mạch để làm cho Đại Việt mãi mãi suy yếu và trở thành chư hầu muôn đời của Thiên triều! Vì thế, chọn Đại La làm kinh đô, khó có chuyện Cao Biền muốn biến nó thành “vạn thế đế vương chi thượng đô” của một quốc gia độc lập và hùng mạnh được!!!

“Đế vương muôn đời” thế nào được khi sự thật lịch sử các triều đại toàn chuốc lấy tai ương và di sản còn lại chỉ thấy toàn những phế tích mong manh dưới lớp bùn dày hàng mét!?

Bây giờ quay lại chuyện “chính gốc” với “ngụ cư” mà những người ở lâu trên đất Hà Thành thường ngạo mạn phân biệt, như thời phong kiến, thực dân người ta từng dùng cách gọi này để phân biệt đối xử với nhau vậy.

Thực ra “chính gốc” hay “ngụ cư” là cách gọi rất tương đối, đơn giản như “ma cũ bắt nạt ma mới”. Xét về lịch sử, khó có thể truy nguyên ai là chính gốc của một vùng đất với nghĩa là tổ tiên của họ sinh ra và lớn lên ở đây. Có chăng chỉ nói được họ đã ở đây mấy đời, đã lâu hay mới đến.

Trong nghĩa tương đối ấy, nếu gắn với mảnh đất Thăng Long của họ Lý, tôi hình dung, chính gốc Hà Nội có chăng là dân làng chài và buôn bán vùng sông nước trước đó, sau này gọi là dân Kẻ Chợ đúng nghĩa. Nhưng tôi tin chắc, khi vua quan họ Lý dời đô đến đây, loại dân chính gốc này đã bị đuổi ra bên lề, và như vậy, từ chính gốc thành ngụ cư, và ngược lại, đám người ngụ cư kia lại thành chính gốc.

Điều này cũng giống như dân Hà Nội mà ta gọi là chính gốc xưa kia, nay đã bị thu gọn về các làng cổ thuộc rìa vực thủ đô và dân ngụ cư đang chiếm cứ trung tâm ấy mới là chính gốc vậy!

Có nghĩa là văn hóa không thuộc chính gốc hay ngụ cư mà thuộc vị trí trung tâm hay bên lề. Khi cái trung tâm đang thống trị, nó sẽ khống chế và bắt cái bên lề quy phục, và tất yếu cái bên lề tìm mọi cách phản kháng trong khả năng có thể để duy trì bản sắc của mình. Nếu không, cái bên lề ấy sẽ bị nuốt chửng và đồng hóa bởi cái trung tâm.

Người Mãn bé nhỏ khi thống trị Trung Nguyên còn bắt người Hán để tóc đuôi sam cho giống mình kia mà!

Cho nên, cái gọi là văn hóa trung tâm chỉ là sản phẩm của quyền lực, được hợp thức hóa bởi quyền lực, nó không bất biến mà thay đổi theo cơ chế vận động của quyền lực. Bản chất của quyền lực nào sẽ sinh ra văn hóa ấy. Thứ văn hóa ấy tồn tại được bao lâu thì lại là chuyện khác. Khỏi phải cãi nhau “chính gốc” với “ngụ cư” làm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Việc tự cho Hà Nội là trung tâm văn hóa để kì thị với những nơi khác cũng tệ hại không khác sự phân biệt chính gốc với ngụ cư. Sự thực, ở đâu cũng có tinh hoa và cặn bã. Không có lí do gì tinh hoa dành hết cho chính gốc, còn cặn bã đẩy hết cho ngụ cư; tinh hoa dành cho thủ đô, còn cặn bã đẩy cho tỉnh lẻ. Căn bệnh kì thị này không phải bây giờ mới có. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, khi quân Tây Sơn tiến quân ra Bắc, giới sĩ phu của triều đại Lê – Trịnh đang thối như cứt nhưng lại kì thị quân Tây Sơn là ô hợp, mọi rợ, bất hợp tác, thậm chí thù địch. Đó là một trong những lí do Quang Trung ép vua Lê gả Ngọc Hân công chúa cho mình để dẹp thói kiêu ngạo của đám sĩ phu tự xem mình là tinh hoa!

Tự xem mình là trung tâm để áp đặt lên tất cả chỉ là một hoang tưởng. Không có cái gọi là trung tâm trong sự biến thiên của lịch sử. “The center”, therefore, “is not the center.” – triết gia J. Derrida khẳng định.

Phải có cái nhìn như thế mới chống được sự kì thị và vươn đến sự bình đẳng để cùng xây dựng nếp sống văn minh chung.

Câu ca dao “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” nếu mang một nghĩa đẹp nào đó, tôi tin chắc đó chỉ là sự nuối tiếc, thậm chí khuyên răn. Bắt đầu từ lúc ngửi thấy mùi nhài thối, người ta đã làm thơ nuối tiếc cho hương nhài thơm đã bay mất; đằng sau đó còn khuyên răn giữ lấy thể diện cho đất kinh thành. Do cách hiểu sai nên câu ca dao trên dù ra đời ở bên lề dân gian nhưng đang bị trung tâm lợi dụng trắng trợn để gỡ sỉ diện cho một thứ văn hóa tàn lụi, từ thanh lịch đang thành thô lỗ hết cỡ mà nó đang ra sức che đậy!

Cổng làng cổ Hà Nội

Cổng làng cổ Hà Nội

5. Giải nhị nguyên bản sắc/ đồng hóa

Văn hóa trong nghĩa rộng nhất là hệ thống các giá trị được kiến tạo bởi nhu cầu xã hội của con người. Theo Taylor, văn hóa tồn tại như một “phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, cũng như mọi khả năng khác mà con người như một thành viên của xã hội tiếp thu được”. Định nghĩa này chưa hẳn đã chuẩn, nhưng đang được sử dụng tương đối phổ biến.

Định nghĩa ấy chưa nói rõ văn hóa gắn liền với quyền lực, con đẻ của quyền lực; để xác lập trật tự thống trị, các sản phẩm từ đạo đức, pháp luật, phong tục cho đến tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật ra đời đều nhằm mục đích phục vụ cho quyền lực. Tất nhiên, nên hiểu theo nghĩa rộng, theo Foucault, quyền lực (power) bao hàm cả quyền thống trị và quyền phản kháng. Hai thứ quyền này luôn tìm đến thế quân bình, nhưng cái này luôn áp đặt lên cái kia và chuyển đổi vị thế cho nhau tùy theo sức mạnh của mỗi bên.

Dễ thấy nhất là hệ thống giá trị của văn hóa không bao giờ thuần nhất, trong phạm vi toàn cầu, và cả trong phạm vi một cộng đồng. Trên thế giới luôn tồn tại những khác biệt về văn hóa, và ngay trong một cộng đồng, dù nhỏ nhất, vẫn luôn chứa đựng những khác biệt của các tầng lớp khác nhau. Marx cho đó là do tính giai cấp của văn hóa, thực chất là do quyền lực chi phối, giữa tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị.

Di tích hoàng thành dưới lòng đất

Di tích hoàng thành dưới lòng đất

Các kì thị trong xã hội, xét đến cùng là kì thị văn hóa. Các nhà văn hóa học lại bị rơi vào định kiến nên chia ra văn hóa cao và văn hóa thấp để kì thị, phân biệt văn hóa của kẻ bề trên (văn hóa bác học của tầng lớp thống trị và người có học) và văn hóa của kẻ thấp hèn (văn hóa bình dân của tầng lớp bị trị và những kẻ vô học). Thực chất, cao hay thấp không phải vì đẳng cấp của các loại văn hóa ấy mà hoàn toàn do thế ưu thắng của văn hóa đang thống trị.

Quyền lực thống trị có thể thuần hóa con người như thuần hóa động vật, nhưng các nhà văn hóa lại dùng nhã ngữ là đồng hóa.

Một khi những kẻ bị trị không đủ sức chống đỡ, văn hóa của kẻ bị trị sẽ bị thôn tính và thuần hóa bởi văn hóa thống trị. Đạt đến độ thôn tính và thuần hóa cao nhất, văn hóa thống trị sẽ coi văn hóa của kẻ bị trị là “vô văn hóa” theo hệ quy chiếu và tư duy nhị nguyên của nó.

Nói văn hóa Tràng An “thanh lịch” một thời là nói đến văn hóa do sự thống trị phong kiến để lại chứ chắc chắn không phải là sản phẩm của “thổ dân” chính gốc làng chài Kẻ Chợ sống ven sông Hồng. Cái tên Kẻ Chợ được các linh mục phương Tây đặt cho vào thế kỉ 16 là đúng nghĩa từ nguyên của nó. Còn sự thanh lịch mà người Hà Nội vẫn tự hào chính là các giá trị của lễ giáo Nho gia du nhập từ Tàu, trái ngược với lối sống tự do phóng túng của dân chài và mua bán trên bến dưới thuyền.

Ông đồ xưa bán câu đối Tết

Ông đồ xưa bán câu đối Tết

Thêm một lần nữa khẳng định, việc gán thứ văn hóa thanh lịch cho “Hà Nội gốc” là hoàn toàn ngớ ngẩn. Hà Nội gốc phải là sự tự do đổi chác của đời sống vùng sông nước.

Xét về lịch sử Hà Nội, tôi tin chắc, cái gọi là “gốc” đó đã nhiều lần “bật gốc”, giống như các gốc cây cổ thụ Hà Nội bây giờ.

Hai lần “bật gốc” gắn liền với hai lần Bắc thuộc. Văn hóa Giao châu, Giao Chỉ bị thôn tính và đồng hóa bởi văn hóa phương Bắc. Không có chuyện “nhập gia tùy tục” mà gia chủ phải quy phục và thuận theo kẻ nhập cư. Ông Trần Ngọc Thêm dựa vào Kim Định nói, người Tàu “thâu hóa” văn hóa Việt để biến thành văn hóa của họ là một hoang tưởng. Sự thực, kẻ thống trị đã luật hóa, phép tắc hóa, lễ hóa cái vốn có của bản địa từ đa dạng, sinh động thành hệ thống toàn trị của nó theo tinh thần Nho giáo.

Để thuần hóa giống dân tự do vùng sông nước này, hết Sĩ Nhiếp rồi đến Cao Biền đã tìm mọi cách triệt tiêu những mầm mống phản kháng bằng cách áp đặt lên đó những cấm kị của Nho gia, dùng các cấm kị điều hành con người vào các khuôn khổ, lâu dần thành quen rồi tự hào là truyền thống “thanh lịch”.

Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La rồi phát triển Đạo Phật thành quốc giáo không hẳn đã làm thay đổi những gì đang tồn tại, nếu không nói, hoàn toàn kế thừa Cao Biền, như chính ông vua này đã tự thừa nhận trong Chiếu dời đô.

Bàn đèn thuốc phiện thời thực dân

Bàn đèn thuốc phiện thời thực dân

Cuộc xâm lược của thực dân đầu thế kỉ thứ XX không đủ thời gian đánh bật gốc cái thành trì của những khuôn khổ phong kiến kia, đúng hơn, nhờ chủ trương “thực dân nửa phong kiến” của nó đã lưu giữ cho Hà Thành thứ “thanh lịch” do ngàn năm phong kiến để lại.

Tất nhiên, xu hướng Tây hóa không phải không diễn ra trong tầng lớp thị dân mới để tạo ra một hệ giá trị mới trong cộng đồng Việt: tự do và phát triển cá nhân.

Văn hóa là cái cây được nhổ đi trồng lại nhiều lần, các nhà giải cấu trúc gọi là nguyên lí hủy-tạo (de-construction) liên tục.

Tôi cho lần cách mạng vô sản của những người cộng sản mới là lần đánh bật gốc trọn vẹn cái cây văn hóa được gọi là truyền thống ‘thanh lịch” Tràng An. Cương lĩnh của Đảng Cộng sản khẳng định, cần phải “xây dựng một nền văn hóa mới”, “văn hóa xã hội chủ nghĩa”, tức văn hóa của giai cấp vô sản, như Marx, và sau đó, Lenin đã chủ trương. Các di sản văn hóa vật thể: miếu mạo, đền đài biến thành sân kho hợp tác xã. Kéo theo các di sản văn hóa phi vật thể: phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng cũng biến dạng hoàn toàn.

Hà Nội thời tem phiếu

Hà Nội thời tem phiếu

Đáng nói là sự biến dạng này lập tức hóa thành đồng dạng khi nền văn hóa mới này chủ trương “đồng phục hóa” con người theo mode xã hội chủ nghĩa. Cuộc sống mậu dịch tem phiếu ràng buộc con người vào cảnh xếp hàng, từ mua hàng đến đi toilet. Nhưng cũng chính cuộc sống mậu dịch này đã đẻ ra thứ văn hóa chợ đen, tức đời sống kẻ chợ với những con phe làm ăn lén lút ngoài vòng pháp luật để chống lại lối sống xếp hàng mậu dịch quốc doanh.

Cho đến khi mở cửa với nền kinh tế thị trường, văn hóa Tràng An “thanh lịch” chỉ còn là cái vỏ phong kiến bôi thêm màu đỏ. Người Hà Nội được cho là “chính gốc” từ phong kiến để lại, bị đẩy ra rìa vực, bên lề để nhường chỗ cho dân nhập cư, theo thói quen chống đỡ gọi là dân “ngụ cư”. Đủ các thành phần, rất đông, từ các nơi khác nhau trên mọi miền. Thăng Long – Kẻ Chợ bây giờ đúng nghĩa là kẻ chợ nguyên thủy – tất cả đang được hồi sinh mạnh mẽ.

Nền kinh tế kẻ chợ (nhã ngữ là kinh tế thị trường) ắt sinh ra quyền lực kẻ chợ, và với quyền lực kẻ chợ ấy tất yếu sinh ra văn hóa kẻ chợ dưới hình thức mới: vừa mang cái ruột tư bản đặc sệt tiền trao cháo múc vừa ngụy trang cái vỏ “thanh lịch” phong kiến đã nhàu nát đến mức không thể bao bọc được nữa.

Hà Nội thời tem phiếu

Hà Nội thời tem phiếu

Nền văn hóa kẻ chợ hiện đại ấy cũng đã tồn tại gần cả thế kỉ nay và sẽ còn tồn tại lâu dài. Việc phục hồi đền đài, miếu mạo, lễ nghi, tập tục trong những năm gần đây, tôi không cho là phục sinh nền văn hóa cổ xưa mà chỉ là cái vỏ bọc cho văn hóa kẻ chợ đúng nghĩa. Nạn buôn thần bán thánh, mua quan bán chức là nét đặc trưng kẻ chợ hiện đại không thể chối cãi.

Tôi không kì thị kẻ chợ, rất tôn trọng nữa là đằng khác nếu sòng phẳng tiền trao cháo múc minh bạch, nhưng tại sao không gọi thẳng là “văn hóa kẻ chợ” để có cách điều chỉnh nó từ hoang dã vào trật tự văn minh, mà lại cứ ngồi đó lợi dụng vỏ bọc “thanh lịch” một thời che trên đậy dưới cho người đời mỉa mai thành ra “văn hóa đểu”!

Cái thuộc tự nhiên ắt tồn tại trong sự hợp lí của nó. Tự nhiên vẫn xinh đẹp ngay cả khi nó sinh ra con quái vật (K. Marx). Hà Nội phát triển không nhờ khuôn mẫu thanh lịch mà nhờ tự do khai phóng. Bất cứ sự kiềm chế nào cũng chỉ gây ra sự méo mó dị dạng, hồn Trương Ba da Hàng Thịt.

Biết vậy để không việc gì phải hoảng hốt lên khi Hà Nội rơi vào xô bồ hỗn độn trong lúc giao thời.

Nhà cao tầng bắt đầu mọc trong cổng làng cổ

Cắt đất bán nền và nhà cao tầng bắt đầu mọc san sát trong cổng làng cổ

Tôi tin chắc, những người dương dương tự đắc là “Hà Nội gốc” kia không còn một chút “thanh lịch” nào mà chỉ là sự “thanh lịch đểu”. Còn những người “Hà Nội gốc” thanh lịch thứ thiệt, ở trong các làng cổ ven thành ấy, chắc chắn cũng không chịu nổi sự cổ kính của mình. Có thể vì sỉ diện mà một số người chưa lộ diện. Tất nhiên là sỉ hão thôi. Bởi sự thực là, từ khi mở rộng thủ đô, nhiều nhà đã vội vàng cắt đất bán vườn để đua nhau xây nhà cao tầng. Và rồi tôi cá chắc con cháu họ đến lúc sẽ vượt thoát ra khỏi cổng làng, thậm chí đạp phá cổng làng để đua tranh và bị hấp dẫn theo với đám người bị cho là ngụ cư nhưng đang nắm quyền hành trên thị trường kia. Tôi tin, những người này đang phổ cập hóa cách nghĩ và nói theo phong cách thủ đô, rằng, chúng tôi “đéo” cần sự thanh lịch giả tạo nữa, chúng tôi đang cần tự do để cạnh tranh sinh tồn.

Ông đồ xưa ngồi trầm ngâm bán câu đối Tết trên phổ cổ mang vẻ thanh lịch một thời chết hẳn. Sẽ không còn bao giờ thấy “ông đồ vẫn ngồi đấy”, kể cả mất hẳn “lá vàng mưa bụi bay”. Có chăng, với sự nhào nặn cho vừa với khuôn mẫu thanh lịch mà người Hà Nội đang cố tình gồng mình lên để tự nhốt mình vào đó một cách duy ý chí chỉ tổ sinh ra bọn hầu đồng, bói toán nhan nhản làm cò buôn thần bán thánh, mua quan bán tước… nhưng lại mạo danh là văn hóa cổ kính.

Bản sắc rốt cuộc chỉ là hư cấu, hoang tưởng trong thời đại hội nhập. Các đô thị khác, ngoài Hà Nội, xem chừng cũng đều đang nằm trong tình trạng này. Ai không tin thì thôi, khỏi cãi!


Ghi chú: Các hình ảnh trong bài lấy từ kho Google Image.

Bài liên quan: Hà Nội trong tôi

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.