Giải kiến tạo từ “Hy sinh”

Standard

Lễ tế thần thời cổ đại, nguồn ảnh Google

Lễ tế thần thời cổ đại, nguồn ảnh Google

Chu Mộng Long – Bài này tôi viết trên FB vào ngày 30.6.2016, ngay sau vụ máy bay rơi, nhân lúc người ta tranh cãi chữ nghĩa liên quan đến cái chết. Nghĩa của từ, theo trường phái cấu trúc luận F. Saussure, là nghĩa đang sử dụng. Còn theo J. Derrida và các nhà giải cấu trúc, đó là trò chơi kiến tạo, nghĩa đang sử dụng luôn phủ lấp lên lịch sử của nó. Bản thân kí hiệu, theo R. Barthes, đã là huyền thoại, một hình thức giả tự nhiên: nó xóa tự nhiên hay lịch sử để thành cái giả tự nhiên.

Nhân anh Hoàng Tuấn Công có một bài viết làm rõ ý tưởng của tôi thông qua tra cứu nhiều bộ từ điển, thấy cần thiết đăng lại đây để mọi người tham khảo.

Ngữ học gia Việt mang nhãn CHINA-USA Đinh Bá Truyền tỏ ra thông kim bác cổ khi phản bác tôi, cho tôi là kẻ dốt nát, trong một còm nói về từ “Hy sinh”. Tôi nói “Hy sinh” là từ ghép, ông ấy bảo từ đơn. Tôi nói “Hy sinh” gốc là con vật hiến tế. Ông ấy bảo chỉ có từ “Hy” là dành cho con vật, còn “Sinh” dành cho con người, cho nên “Hy sinh” chỉ dành cho con người, mang sắc thái trang trọng so với từ “Chết”. Ông ấy khoe đã tra từ điển Thiều Chửu, tôi bảo tra thêm Khang Hy, ông ấy tra Khang Hy, tôi bảo tra thêm Từ Hải, Từ nguyên… Rốt cuộc, ông ấy rơi vào tẩu hỏa nhập ma. Tôi đành mách nước, cứ Thiều Chửu mà tra cũng được, nhưng tra thêm chữ “Sinh”, xem thử nó ra con gì? Tri thức phải tiêu hóa chứ chỉ tra sống sượng thì trẻ lớp ba cũng làm được. Tôi không cần tra lại các từ điển ấy vẫn tin chắc não mình rất tỉnh và nhớ tốt. Sai chỗ nào mong các đại gia Hán Nôm chỉ giáo, tôi tiếp thu.

Từ “hy sinh” được dùng khá phổ biến trong tiếng Việt. Theo các nhà Việt ngữ học, “hy sinh” đồng nghĩa với “chết” nhưng mang sắc thái trang trọng, dành cho những người chết vì nghĩa. Có nghĩa là, “chết” là từ thuần Việt, không trang trọng, dù cả hai đều tắt thở và cuối cùng phải chấp nhận phân hủy, Đạo Phật gọi là “tan xác” (thi tán) để có thể được về với “không”.

Ai bảo dùng từ “chết” là thấp hèn, miệt thị thì tôi mua muối iốt ướp xác cho!

Từ “hy sinh” gốc Hán. Đứa trẻ con học lớp ba cũng biết. Và nó cũng được các nhà Việt ngữ học dạy là “mang sắc thái trang trọng”.

Nhưng khi lớn lên, được học ngữ văn cổ trung đại, nếu không bị nhồi sọ, học trò thông minh sẽ hỏi: Vì sao các cụ ngày xưa, cả Tàu lẫn Ta ít khi dùng từ “hy sinh”, nếu không nói là kiêng kị.

Tôi tra cứu nhiều lần, ở những tác phẩm nói về chiến tranh, chết chóc (nhiều vô kể, từ Tàu đến Ta) nhưng không thấy, chỉ thấy có rất ít bài thơ dùng từ “hy sinh”: Ỷ la hương của Đào Tấn (Mãng nam nhi, vị quốc hy sinh, Trường thương thất mã sát thù khứ). Đáo Thiều Sơn của Mao Trạch Đông, (Vị hữu hi sinh đa tráng chí), Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu của Hồ Chí Minh (Bả nhân danh dự bạch hy sinh)… Đó là những bài thơ tự thán, nói về sự hy sinh của mình, về tinh thần–danh dự chứ không phải đồng nghĩa với “chết” về thân xác.

Tế thần bằng động vật ở Nepan, ảnh Google

Tế thần bằng động vật ở Nepal, ảnh Google

Vậy thì các cụ Tàu lẫn cụ Ta kiêng kị hay ít dùng vì lí do gì?

Tôi đang công tác xa, không thể tầm chương trích cú, và thấy không cần thiết. Mà tri thức thực thì nó đã tiêu hóa trong đầu, chứ không phải chộp giật sống sượng như mấy ông trí thức giả danh, háo danh tra gà ra thỏ. Tôi nhớ các Từ điển Hán – Việt đều giải thích: Hy 犧 là con muông thuần một sắc, khi dùng để cúng tế thần linh (tế sống) được gọi là Sinh 牲.

Hy sinh (犧牲) là từ ghép, nghĩa là con vật dùng để tế thần. Cổ thư chép, đại ý: liên tục 5 năm trời không mưa, Vua Thành Thang cầu đảo, tự cắt tóc, cắt móng tay móng chân, phục trước miếu làm con hy sinh để tế thần. Dù đó là vua, đã hóa thân thành con vật nên vẫn gọi là con hy sinh.

Hy sinh trong trường hợp này, khi đã động từ hóa, nó vẫn không đồng nghĩa với “chết” mà đồng nghĩa với “quên mình”. Thành Thang quên mình là người để thành con vật tế thần.

Tục bắt người sống làm vật tế thần, kẻ bị đem hiến thân đó cũng gọi là hy sinh. Như tục hiến gái đồng trinh cho Hà Bá ở vùng sông nước chẳng hạn. Từ “hy sinh” ở trường hợp này vẫn không mang nghĩa là chết mà về với thần linh theo quan niệm tâm linh. Có thể ban đầu đó là một thứ tín ngưỡng, chuyện tế thần linh bằng con vật hay con người đều mang ý nghĩa cao cả, vì trong niềm tin, việc đó mang lại lợi ích cho cả cộng đồng.

Khi con người nhận thức được sự hiến tế ấy là dị đoan, thì “hy sinh” mới mang nghĩa là chết, và những cái chết trên trở thành vô nghĩa, lảng xẹt, nếu không nói là do tập tục man di.

Tóm lại, dù là nghĩa đen hay bóng, “hy sinh” đều là hiến tế. Sự hiến tế này không cho bản thân mà phục vụ cho kẻ khác. Cho nên, sự hy sinh có thể có ý nghĩa hoặc vô nghĩa.

Đó là lí do các cụ chỉ dùng từ “hy sinh” cho chính mình khi tự thán, ở nghĩa mất mát tinh thần, và né tránh dùng cho sự mất mát thân xác của những người khác. Đó là sự trung thực!

Nhưng cũng vì từ “hy sinh” mang danh cao cả mà nó bị đánh tráo một cách dối trá. Kẻ có quyền lực lạm dụng thân xác của bao nhiêu con người để hiến tế. Trước, vì mê tín dị đoan, kẻ có quyền lực nhân danh sự mách bảo hay giận dữ của thánh thần, tức lợi dụng thần quyền, đã tế sống không biết bao nhiêu người vô tội. Sau, thế giới điên đảo, người ta đẩy không biết bao nhiêu người trai trẻ vào lò thiêu của chiến tranh để được gọi là hy sinh, thực chất cũng là hiến tế, hiến cho Thần Chiến tranh!

Tôi không có ý phủ nhận thân xác của bao nhiêu người trong các cuộc chiến tranh giành độc lập, tự do của dân tộc, nhưng cách viết của Tố Hữu: “Mỗi thây rơi là một nhịp cầu/ Cho ta bước đến cõi đời cao rộng” là có vấn đề. Dù ông viết lúc chính ông còn hoạt động gian khổ (1938), nhưng nó dự báo tương lai về những hy sinh thân xác vì quyền lợi của kẻ khác. Nó mang nghĩa hy sinh ở góc nhìn tiêu cực nhất: sự vinh quang của một nhóm người trên thân xác của muôn người. Có thể Tố Hữu không ý thức đầy đủ về cách viết của mình, nhưng đã lộ ra chân tướng của sự thật, không phải tất cả, nhưng ở một nhóm người say sưa quyền lực hưởng trên thân xác kẻ đã làm vật hy sinh. Điều này nhà Phân tâm học J. Lacan gọi là “vô thức ngôn ngữ”, còn nhà kí hiệu học, huyền thoại học R. Barthes gọi là “ý đồ bị che giấu trong hình thức giả tạo”.

Biết ý nghĩa của từ “hy sinh” để dùng cho đúng. Không nên lạm dụng như lạm dụng thân xác con người! Thậm chí khi cần nên kiêng kị mới phải đạo!

Lễ tế Hà Bá ở Ninh Bình. Ngày xưa tế sống gái đồng trinh, ảnh goole

Lễ tế Hà Bá ở Ninh Bình. Ngày xưa tế sống gái đồng trinh, ảnh goole


Bài liên quan: Hiểu sao cho đúng hy sinh? của Hoàng Tuấn Công

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Bình luận đã được đóng.