Chuyện thơ: Gió đưa thơ dở về trời

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Gió đưa thơ dở về trời. Thơ hay ở lại chịu lời đáng cay...

Gió đưa thơ dở về trời. Thơ hay ở lại chịu lời đắng cay… Nguồn Google

Chu Mộng Long – Để đăng chính thức bài này, bất đắc dĩ phải xây rào trước để tự vệ. Không phải sợ kẻ gian đột nhập ném đá như mọi lần mà chỉ vì… tôi có quá nhiều bạn thơ. Không gì sợ bằng sợ mất bạn tốt.

Kể từ Hoài Thanh chủ trương chỉ bình chứ không phê, người Việt, từ người làm thơ đến người thưởng thức thơ, chỉ còn biết tâng hót nhau và thơ từ đó rơi vào bệnh đồng bóng… Đến mức hình thành luôn cả một lễ hội về thơ trong không khí hơn 8000 lễ hội hiện nay ở Việt Nam để… thần thánh hóa nhà thơ.

E chừng có ngày người ta lập dự án xây nên một Đền thơ nghìn tỉ để lập đàn tế các nhà thơ cũng nên!

Tôi dạy thơ, viết phê bình thơ, làm luận án về thơ, không có lí do gì tôi phải thù địch thơ. Đôi lúc tôi cũng làm thơ để… không mang tiếng lạc loài giữa “nước thơ”! Nhưng bình thơ thì phải sòng phẳng, có khen hay và có chê dở chứ không coi thơ là cái đền thiêng bất khả xâm phạm.

Tôi yêu các nhà thơ cổ điển có hào khí, yêu các nhà Thơ Mới và thơ phản chiến ở miền Nam đầy tính nhân văn, yêu thơ cách mạng một thời sục sôi, và yêu những nhà thơ hiện đại, hậu hiện đại với những cách tân và những suy nghĩ mới mẻ về thời cuộc.

Hiện tại tôi yêu thơ của những người bạn trên FB, có người từng gặp mặt và chưa từng gặp mặt, yêu cái tâm hồn tinh tế và đầy khai phóng của Inra Sara, cái dí dỏm, bông đùa, cợt nhả của Lê Vĩnh Tài, kể cả cái mộc mạc, hồn hậu của Phạm Vân Hiền, Văn Công Mỹ…

Tôi không lấy sở thích của mình áp đặt cho người khác, nhưng những nhà thơ này không tự huyễn hoặc đồng bóng là có thật, đáng quý.

Và tôi tin các bạn này sẽ thể tất trước những lời phê bình của tôi!

Đối với những nhà thơ từng chửi tôi, thù ghét tôi, cũng đã từng xỉa xói bắt tôi công khai xin lỗi nhà thơ vì viết bài xúc phạm họ, cũng là chuyện bình thường, mặc dù tôi chưa hề gọi tên những “nhà thơ” ấy ra chỉ trích. Tôi không sợ, vì biết thành phần ấy là ai, dù họ rất đông…, như quân Nguyên. Thơ không có tội, nhưng những người này đã làm thơ thúi rữa ra mà tưởng mình vĩ đại. Có khi những người này càng thù tôi càng tốt. Để tôi tránh xa. Và chắc chắn không đánh được tôi thì họ cũng biết tránh xa. Tránh voi xấu mặt nào!

Nay, nhân Ngày thơ Việt Nam lần thứ 13, đăng lại chùm bài năm trước với một chút sửa đổi cho “dễ thương” hơn.

1. Vĩ cuồng

Duy nhất một lần tôi đến dự Ngày Thơ. Ngày Thơ thật nhộn nhạo, như một lễ hội trong hơn 8000 lễ hội tháng Giêng của quốc gia mà bất cứ thổ dân nào trên thế giới cũng ganh tị. Chữ nghĩa bày la liệt trên Đồi Thi Nhân, long lanh màu sắc chữ Tàu, chữ Ta đủ loại. Và cũng la liệt chai, hũ, thõng với các loại rượu và đồ nhắm…

Hội thơ đông người, cũng la liệt các thành phần khác nhau. Phần lớn là tò mò đến để mua vui khi cái thành phố này không có chỗ để mua vui. Thành phần chính hiển nhiên là các nhà thơ. Cũng đủ loại, có nhà thơ đã thành danh và có nhà thơ chưa ai biết.

Nhà thơ chưa ai biết thì lặng lẽ, khép nép ngồi hóng hớt những nhà thơ thành danh đang hoa chân múa tay, miệng mồm trệu trạo.

Tôi cũng ngồi lặng lẽ khép nép… để quan sát xem họ diễn thơ như thế nào.

Một anh nhà thơ, nghe nói rất thành danh mà tôi chưa biết đang say khướt, khệnh khạng, khật khưỡng đến chỗ tôi ngồi. Một anh bạn trịnh trọng giới thiệu với anh ta, đây là ông Chu Mộng Long, giảng viên đại học, nhà lí luận phê bình. Tôi bẽn lẽn nói không dám, không dám…

Chưa kịp giới thiệu về anh ta, anh ta đã hất hàm hỏi:

– Mày biết tao là ai không?

Tôi cảm thấy khó chịu nhưng ráng nín nhịn:

– Dạ xin lỗi, em không biết ạ…

Anh ta lại khật khà khật khưỡng đi đi lại lại trước mặt tôi, nhìn tôi như nhìn một đứa trẻ con. Anh tự giới thiệu một hơi về danh tính, về thành tích thơ ca của anh ta rồi đọc luôn một hơi mấy bài thơ. Đọc ngân nga đến vang trời đất. Xong, anh ta hất hàm hỏi:

– Mày thấy thơ tao thế nào?

Tôi hỏi lại:

– Sao anh không lên sân khấu mà đọc cho sang, lại đọc ở đây?

Anh ta rướn cổ lấy hơi rồi bỗng lục khục ụa ra một bãi nhầy nhụa xuống đất, rồi lại cố gắng hoa tay múa chân:

– Thơ tao không phải đọc ở chỗ ấy. Thơ tao là âm thanh của vũ trụ, là ánh sáng của nhật nguyệt, là màu sắc, hương vị của thảo mộc… Mày có nghe thấy không???

Anh ta chồm vào mặt tôi, nói như quát vì sợ tôi không nghe. Tôi đáp:

– Dạ tôi nghe thấy hết. Thơ đó rõ ràng bay ra từ miệng của anh nên nó là âm thanh tiếng nói của anh, khi anh đọc thơ có long lanh ánh sáng của nước bọt và hương vị của thịt chó mắm tôm…

Trông mặt anh ta bắt đầu hằn lên những đường nhăn dữ dội, tôi bịt miệng bịt mũi lại và vội bỏ ra về. Xuống dưới đồi tôi nôn thốc nôn tháo và không dám đến Ngày hội thơ nữa vì sợ cái “vũ trụ thơ” ấy lắm lắm.

2. Tôi chả tin

Nhà thơ Trần Đăng Khoa tự sự: “Một dân tộc yêu thơ như nước ta, nếu thực sự ai cũng học hỏi được những tinh túy từ thơ ca thì sẽ bớt đi rất nhiều những ứng xử hung hăng, bạo lực với đồng loại và môi trường sống như hiện tại”. Còn nhà thơ Vũ Quần Phương thì sung sướng cười: “Nhớ lại một xã hội trước đây ai cũng yêu thơ, thuộc thơ, thầy cô và học trò đều yêu thơ, khắp trường lớp vang lên sang sảng những tiếng thơ, thấy an bình và hạnh phúc lắm. Hồi đó, con người ai cũng hồn hậu, trong trẻo”. (Dẫn theo FB Inra Sara).

Tôi chả tin vào cái lí sự từ suy nghĩ “rất thơ” của hai ông nhà thơ này. Là do hai ông hoang tưởng ai cũng làm thơ và yêu thơ theo cách của hai ông.

Ông Trần Đăng Khoa chắc thừa biết thơ cũng có đến vài loại, tinh túy có, cặn bã có. Tinh túy là gì khó nhận ra vì hiếm hoi, nhiều khi chỉ nói cho sang, nhưng cặn bã thì dễ thấy vì đầy rẫy ra đấy. Có loại hiền lành đến mức thương khóc cho một con ruồi lỡ cánh rơi vào bát canh, nhưng cũng có loại sắt máu đến mức hô hào người ta giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ. Loại thứ hai có vẻ đáng ghét, nhưng dù sao cũng chân thật hơn loại thứ nhất. Bởi vì loại thứ nhất dễ lừa người ta hơn, dễ chừng nhiều người bảo nó thiền, như thơ thiền Hoàng Quang Thuận vậy!

Ông Vũ Quần Phương nhớ lại và nuối tiếc cái xã hội trước đây trong cái hũ nhà thơ thời ông. Trong khi mở hết nút hũ ra xem, có phải nó thật sự “an bình và hạnh phúc” như ông ca ngợi không? Ở trong cái hũ của sự đói khát, bưng bít, thơ đúng là cứu cánh để người ta giải thoát bằng cách tự ngửi, tự ca, tự khen, nói chung là tự sướng trong cái hũ của mình. Ông muốn quay về cái thời đó để tự lừa dối mình trong những ước mơ viễn vông lần nữa sao?

Tôi không chắc thời đó con người ai cũng “hồn hậu, trong trẻo”. Trong giới nhà thơ các ông có chắc không có chiến tranh diễn ra? Các ông đổ tội cho chính trị, nhưng tôi tin những số phận như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… đều bắt đầu từ sự đố kị, ganh ghét, tranh chấp khốc liệt từ trong nội bộ của giới nhà thơ các ông!

Khi nhà thơ được quyền lực sủng ái, thế giới nhà thơ không khác hậu cung của một ông vua dâm dục! Nhà thơ không khác giới hoạn quan và các mỹ nhân đấu nhau đến chí tử để được sủng ái!

Ông Vũ dựa vào cơ sở nào để nói rằng, “Từ khi kinh tế khá lên thì mơ ước bị coi là viển vông và tâm hồn con người ta cằn cỗi đi nhưng nếu càng lúc càng mất đi khát vọng thì sẽ là thảm họa”. Thưa ông, tôi nghĩ khác, kinh tế khá lên thì ước mơ cũng cao hơn, tất nhiên cấp thiết hơn chứ không viễn vông về một thiên đường bánh vẽ như thời của ông. Thơ bây giờ cũng không ít hơn xưa, nếu không nói nó nhiều gấp vạn lần thời ông (mỗi ngày người ta tự do sản xuất ra hàng triệu tập), nhưng rất may là loại thơ diễn những trò đểu, trò lừa đã không còn thu hút hay lừa được ai. Tôi không sợ thứ “thảm họa” như ông nói. Tôi chỉ sợ có một thứ thảm họa khác, thảm họa nhà nhà làm thơ, người người làm thơ, không chỉ tốn tiền dân (loại thơ bao cấp) mà còn làm suy đồi cả một thế hệ. Bởi vì bản chất của thơ, khi rơi vào một thái cực nào đó, là một thứ ma túy, đồng bóng, rất nguy hiểm!

Rất may là đến lúc người đọc quay lưng với thơ, nhưng các ông lại ngửa mặt than trời, rằng tâm hồn con người thời nay đã trở nên “cằn cỗi”?!

Xin nói thẳng, con người bây giờ đã chán tận cổ cái món ăn tinh thần cằn cỗi do các nhà thơ đẻ ra chứ không phải vì tâm hồn người ta cằn cỗi.

Người ta đang cần một cái gì mới, trẻ trung, khởi sắc từ thực tiễn sống động, nóng bỏng. Thơ không chạy theo kịp thời đại, thơ chỉ còn là đống giấy gói thịt cá tanh tưởi. Mà nữa, thơ đạt đến cảnh giới của sự hồn nhiên chân thật hay mang chút dũng khí thì ít (ở đâu cũng thế, không cần phải là “cường quốc thơ” như ta), còn thơ đểu hay thơ hèn thì nhiều, nhiều vô kể, cho nên đến lúc nó bị chối bỏ bởi Thượng đế thật sự của nó, người đọc, là điều hiển nhiên!

Không còn có những cơn lên đồng về thơ nữa là dấu hiệu của sự lành mạnh đó!

Người đọc thời nay không như người đọc thời đói khát xưa, đến con bọ hung cũng ăn đâu ông Trần, ông Vũ ạ! Thời đó làm được đôi câu thơ thường được người đọc bốc lên trời như Thượng đế, còn thời nay khi mọi thứ đều no phè, ông nhà thơ trong mắt người đọc mà được xem như gái đĩ “mua vui cũng được một vài trống canh” là quý lắm rồi! Cụ Nguyễn Du từng ẩn dụ qua thân phận nàng Kiều chứ tôi không dám mạo phạm đâu!

Trên mạng, người ta đang lưu truyền câu này khá hay và chân thật: “Thời buổi này, người ta cảm thấy hèn và chịu nhục lắm lắm mới làm thơ!” Nói thêm, bằng nghịch đề: Thời buổi này làm thơ mà không thấy mình hèn và nhục thì chỉ có bọn mặt dạn mày dày, nếu không thì cũng chỉ là loại mắc bệnh hoang tưởng! Vì sao tôi sẽ giải thích rõ hơn bằng bài tiếp theo!

Dù sao, khi nhà thơ biết ngậm ngùi khóc cho đứa con tinh thần của mình cũng là lúc báo hiệu cho một sự đổi thay. Ít ra anh ta sẽ hồi tỉnh nếu biết phản tỉnh!

3. Khi nhà thơ được quyền lực sủng ái

Làm được đôi câu thơ tự thấy mình vĩ đại, người nghe thơ hóng hớt vỗ đùi khen “xuất thần” chỉ là những huyền thoại, không còn mấy ai tin.

Nếu nhà thơ nào cũng hiểu, rằng nhà thơ sinh ra như một mỹ nhân, có xấu mã cũng được tiếng đẹp lời, “lời có cánh” – nói như thần thoại Hy Lạp, chỉ biết hiến tặng cho cuộc đời cái để mua vui thì đúng là thơ mang lại cho cuộc sống “sự an bình và hạnh phúc” như Vũ Quần Phương nói.

Nhưng sự thực hiểu được như thế chỉ có Nguyễn Du và một ít người. Thành phần này biết rõ thơ chẳng làm nên cái gì to tát, cho nên làm xong bài thơ họ không quan tâm đến số phận của thơ, cũng như số phận chính mình và đồng loại. Giống như con chim “ngứa cổ hót chơi”, tiếng hót của nó cũng như số phận chủ nhân của nó kéo dài và sống được bao lâu chẳng cần quan tâm.

Ở đây, tôi đã loại trừ những nhà thơ mà một phần thơ của họ gắn với hành động cứu dân cứu nước mà bọn học trò vẫn học. Thực ra, nói công bằng, không phải nhờ thơ mà nhờ hành động làm nên sự nghiệp long trời lở đất mà phần lớn thơ (tôi nhấn mạnh “phần lớn” nghĩa là không phủ nhận một phần dù nhỏ thơ của họ là hay nhé!) của những người này được ăn theo để thành bất hủ.

Nói rào như vậy cũng đồng nghĩa với việc thơ muôn đời không thoát ra khỏi sự chi phối của quyền lực thống trị bằng nhiều cách. Khi nhà thơ nắm được quyền lực trong tay thì chỉ cần phun nước bọt cũng thành nhả ngọc phun châu. Nhưng với phận tôi đòi, không thể chối cãi một sự thật rằng, diễn ngôn thơ thường là sản phẩm hóng hớt dưới chiếc ô quyền lực. Đó là một trong nhiều lí do khiến cho nhà thơ trở thành kẻ hèn, chỉ biết dựa dẫm vào quyền lực để tồn tại. Trong điều kiện ấy, nhà thơ có thể biết nói thật, rất thật, nhưng ít khi nói thẳng. Nhà thơ vẫn biện bạch, rằng thơ luôn là những ẩn dụ, càng kín đáo càng hay!

Đã đành thơ là những ẩn dụ kín đáo, nhưng truy đến tận cùng vì sao thơ phải dùng ẩn dụ. Vì nó sợ sự kiểm duyệt của quyền lực. Điều ấy có thể chia sẻ, như xưa nay người ta vẫn chia sẻ, và có thể lấy đó tôn vinh thành “sự độc đáo” của thi ca.

Tuy nhiên, một khi nhà thơ bị rơi vào sự sợ hãi bởi sự kiểm duyệt đáng sợ, thơ sẽ chạy theo những ngả rẽ khác. Hoặc là nó chạy trốn vào những vấn đề vô thưởng vô phạt như nấp dưới váy đàn bà, hoặc là nó không còn nói thật nữa mà nói dối, nói nịnh bằng những bản tụng ca mà người ta thường chỉ trích là văn nô, bồi bút.

Nhưng ở kì này, tôi muốn nhấn mạnh đến thân phận của nhà thơ khi được quyền lực sủng ái, như một hiện tượng thời sự. Thơ bị quyền lực kiểm duyệt không đáng sợ bằng thơ được quyền lực sủng ái.

Trong điều kiện thơ bị quyền lực kiểm soát, nhà thơ vẫn có những khoảng trống tự do nhất định bằng các ẩn dụ kín đáo, sâu sắc, dù xét bản chất, vẫn là kẻ hèn như trên đã nói. Nhưng một khi được quyền lực sủng ái (bằng tiền tài, danh vọng), nhà thơ sẽ không khác bọn hoạn quan hay cung nữ nơi hậu cung. Bởi vì, gốc gác của nhà thơ chỉ là kẻ hầu hạ, như đám xướng ca vô loài, khi nhà thơ thấy hầu hạ cho quyền lực sướng hơn phụng sự cho thiên hạ, nhà thơ không chỉ làm thơ nịnh hót mà gắn với hành động nịnh hót, các ẩn dụ biến thành trò chơi đánh đĩ ngôn từ.

Khi tranh nhau nịnh hót, nhà thơ đố kị, tranh chấp thậm chí tàn hại nhau để độc quyền được quyền lực sủng ái. Và khi ấy, loạn nhà thơ không khác loạn hậu cung!

Chuyện thơ cũng như chuyện đời, nhưng thế giới nhà thơ là nơi tập trung nhất những thói đời hiểm ác chứ không hiền lành như người ta vẫn tưởng!

Nhiều nhà thơ có tài chết cay đắng vì cái loạn hậu cung này chứ không phải “an bình và hạnh phúc” như Vũ Quần Phương nói!

Một ngày đẹp trời nào đó tôi sẽ chứng minh đầy đủ về cái “loạn hậu cung” đã từng xảy ra trong thơ Việt hiện đại.

4. Vì sao thơ dùng ẩn dụ

Nhà thơ hậu hiện đại Lê Vĩnh Tài, trong một bình luận ở kì 3, có vẻ tỏ ra khó chịu khi tôi đưa ra vấn đề, rằng thơ dùng ẩn dụ, truy đến cùng gốc gác của nó là do sự hèn.

Đó là lí do tôi phải viết nhanh kì 4 này để giải tỏa sự khó chịu ấy. Tin hay không tùy vào bạn đọc.

Có lẽ, theo Lê Vĩnh Tài, ẩn dụ là một trong những đặc điểm căn bản của thi ca, tự thân thi ca là ẩn dụ chứ không phải do hèn.

Nhiều nhà thơ rất dũng cảm vẫn dùng ẩn dụ. Chẳng hạn như anh hùng ca, sản phẩm của kẻ thắng cuộc, không có lí do gì để hèn, vốn đã tràn ngập những ẩn dụ. Những thi gia đầu đội trời chân đạp đất như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Nguyễn Trãi, Puskin, Hugo… vẫn sử dụng những ẩn dụ. Ẩn dụ làm thơ tinh tế, sâu sắc hơn.

Lý luận trên góc nhìn như thế thì không còn gì để nói.

Nhưng tôi đã nhấn mạnh ở sự “truy đến cùng”, là tôi đã có ý đồ giải huyền thoại về ẩn dụ của thi ca, muốn tìm hiểu gốc gác sâu xa của những ẩn dụ. Nên nhớ, khi ẩn dụ mang lại những hiệu quả nghệ thuật lớn lao, tự nó hình thành nên thói quen hứng thú dùng ẩn dụ và người ta quên đi cội nguồn sâu xa của sản phẩm do mình làm ra.

Tôi tin, thơ ban đầu chỉ là lời nói có vần điệu chứ không phải những ẩn dụ. Đôi cánh vần điệu làm cho lời thơ bay cao, bay xa. Còn đi vào hiện tượng, nó nói thẳng băng như nó nghĩ chứ không cần né tránh. Đồng dao, vè là những loại hình thơ nguyên thủy, chỉ cần vần thôi đã gọi là thơ. Ca dao, tục ngữ cổ hoặc thuần dân gian thường văng toạc móng heo những từ ngữ tục, trong nghĩa trần tục nhất, cho chuyện tình dục, tình yêu… Chẳng hạn như “L. Nữ Oa bằng ba mẫu ruộng”, hay “C. to không lo gì đói/ Đ. dạo cũng có gạo mà ăn”. (Tôi viết tắt vì đang thực hiện cấm kị).

Từ khi nào thơ dùng ẩn dụ? Từ khi xuất hiện các Cấm kị (taboo). Thơ sợ hãi trước các cấm kị nên dùng ẩn dụ. Cấm kị là trò chơi của quyền lực được mệnh danh là văn hóa với tác dụng ngăn cản lời nói thật, nói thẳng của con người. Bản chất của cấm kị, bề ngoài là xác lập trật tự, ổn định xã hội, nhưng bên trong là để cho kẻ có quyền độc quyền thực hiện những điều bị cấm đối với kẻ khác. Giống như người đàn ông cấm người đàn bà ngoại tình để mình được tự do ngoại tình hay có được năm thê bảy thiếp; ông vua đặt ra luật lệ “nam nữ thụ thụ bất thân” để độc quyền hưởng thụ sự trao thân vậy. Cấm kị bản chất của nó là mưu toan dùng quyền lực trấn áp với ảo tưởng che đậy và tiêu diệt sự thật, và đôi khi nhân loại rơi vào ảo tưởng vì cái gọi là cấm kị “có lí” này. Nhà thơ bị lừa vào trò chơi gọi là thanh cao, trong sáng của ngôn từ thơ. Trong khi bản chất của ẩn dụ, ở nghĩa đen nhất là che giấu sự thật, nếu không nói là sự đánh tráo, đánh đĩ ngôn từ. Những bài thơ tương truyền của Hồ Xuân Hương, tôi đảm bảo rất dâm, nói theo ngôn ngữ Nghệ Tĩnh là rất “nứng”, nhưng cái sự “dâm” hay “nứng” ấy được đánh tráo sang cái hang cắc cớ, quả mít, ốc nhồi, chuyện đánh đu… để được đánh giá là “thanh”.

Nhà thơ bất luận trong trường hợp nào khi đã dùng ẩn dụ đều che giấu cái sự hèn bên trong. Bởi vì ẩn dụ nguyên thủy là sự sợ hãi quyền lực, ánh hào quang quyền lực đã làm biến thái, uốn cong ngôn ngữ với những trạng thái khác nhau.

Lacan gọi trò chơi cấm kị của ngôn ngữ bằng thuật ngữ “trượt” (glissement), ngôn ngữ không còn quy chiếu vào sự thực mà trượt trên chuỗi biểu đạt, thực chất là trượt theo quyền lực với những ẩn dụ, biểu trưng. Nôm na, nhà thơ giống như đứa trẻ vì nói thật mà bị bố đánh đòn vài lần, nó sẽ không còn nói như nó nghĩ nữa mà nói theo bố nó và người lớn nghĩ. Nó bị quyền lực sai khiến và tự nó biến thành công cụ mà nó không biết.

Lacan nói, sự thật luôn là cái vắng mặt khi bao viền xung quanh chúng ta toàn là những kí hiệu, biểu trưng, tức cái ảo. Cấm kị muốn tiêu diệt dục vọng, nhưng đó là ảo tưởng, nó chỉ dịch chuyển từ dục vọng này sang dục vọng khác, từ dục vọng thân xác sang dục vọng quyền lực. Và các ẩn dụ ra đời với tư cách là những cái thay thế. Người ta không dám nói đến Cái ấy (Id) nữa mà vay mượn các hình ảnh tương tự. Ví như, “Ước gì anh được làm chày/ Cho em làm cối anh giã ngày giã đêm”… Trăng – gió, Nguyệt – Hoa, Thuyền – Bến… là những dạng thức thay thế phổ biến cho cái ấy, chuyện ấy.

Cấm kị tình dục chỉ là một vấn đề giao thời từ “hoang dã” sang “văn minh”, khi đã đạt đến trình độ văn minh thật sự tự nó cởi bỏ. Cấm kị chính trị mới quan trọng, nó đóng đinh trong lịch sử loài người, nó làm cho thơ càng trở nên õng ẹo, yếu hèn hơn. Nhà thơ giống như người đàn ông bị thiến, anh ta làm thơ như thể “làm sương cho sáo” – khổ dâm. Cấm kị chính trị diễn ra khốc liệt trong các cuộc chạy đua của quyền lực và hậu quả là nhà thơ trượt theo thói quen dùng các ẩn dụ ngay cả khi nổi loạn muốn nói lên sự thật. Bản chất của ẩn dụ là nói né, nói tránh, nói vòng, nói lảng để thực hiện chiến lược phản kháng lại quyền lực theo phương châm “văn chương tự cổ vô bằng cớ”.

Thơ là diễn ngôn điển hình của chiến lược phản kháng theo cách độc đáo của nó. Nó thấy ẩn dụ lung linh hơn, mặc dù ẩn dụ làm nhòe mờ sự thật, nhưng vẫn vẫy gọi những sự thật thâm sâu hơn. Ẩn dụ vì thế trở thành huyền thoại về tính độc đáo, cao siêu của thi ca. Những loại hình thơ nguyên thủy trên kia chỉ còn được xem là vần vè dễ dãi.

Tất nhiên, trong điều kiện dân trí lẫn quan trí có tầm, ẩn dụ thi ca có thể làm cho đối tượng được nói đến có được hứng thú hoặc bị nhức đầu, nhưng với dân trí của thời đại chỉ biết đến miếng cơm manh áo, và quan trí ở tầm… mặt dạn mày dày, cách nói “vô bằng cớ” của thi ca chỉ là muỗi đốt gỗ.

Biết là vậy, nhưng cái hèn cố hữu của nhà thơ vẫn không thể thay đổi khi anh ta chỉ còn biết dựa dẫm vào những ẩn dụ khi đối mặt với cuộc đời. Hoặc là để thoát ra khỏi hàng rào cấm kị hoặc chạy trốn vào trong những thứ huyền ảo mông lung nhưng lại ảo tưởng rằng mình cao siêu.

Bài này chỉ luận về những ẩn dụ tích cực. Ở đây đã gạt bỏ loại ẩn dụ đã hoàn toàn bị trượt sang dối trá với động cơ ngợi ca quyền lực để tự tước đoạt quyền lực phản kháng của mình. Loại thơ này muôn đời vẫn là kẻ tôi đòi hạ tiện bên cạnh kẻ tôi đòi đẳng cấp muốn làm thay đổi số phận của mình nhưng bất lực bởi cái hèn cố hữu của nòi thơ…

Nguyên Tiêu 2015, 2016

————–

Các bài liên quan:

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.