Học thẩm mĩ – học sáng tạo theo tinh thần giáo dục khai phóng (3)

Standard

(Tiếp theo 2)

1_VGVE.jpg.ashx4. Học thẩm mỹ là học cách sáng tạo

Học thẩm mỹ trong nghĩa rộng nhất là học sáng tạo, phát huy tất cả năng lực thẩm mỹ (cảm giác, cảm xúc và cách thể hiện cảm xúc, cảm giác) của các cá nhân. Học thẩm mỹ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực nghệ thuật mà trong mọi lĩnh vực của đời sống, kể cả khoa học, công nghệ. Hơn lúc nào hết, thời đại chúng ta đang sống là thời đại của cạnh tranh sáng tạo.

Các nhà sinh lí học hiện đại khẳng định, cấu trúc bên trong não bộ của mọi người là giống nhau. Không có một dấu hiệu nào khác biệt giữa não bộ của một người thông minh, như A. Einstein chẳng hạn, với một người không thông minh. Sự khác nhau về năng lực chủ yếu do tác động từ bên ngoài. Hình sau muốn nói, mọi năng lực đều do một tác động nào đó từ bên ngoài, đặc biệt là giáo dục, có thể đánh thức hoặc làm tê liệt những năng lực tiềm ẩn bên trong: (H.14)

Hình 14

Hình 14

Một nền giáo dục nhồi sọ, gồm quá nhiều những cấm kị, chỉ có thể tạo ra lối mòn hoặc làm tê liệt sáng tạo. Triết gia M. Foucault khẳng định, tri thức thường là sản phẩm được hợp thức hóa bởi quyền lực và khi được hợp thức hóa bởi quyền lực, tri thức cầm tù con người và biến con người thành công cụ của nó. [6, tr.208].

Giáo dục khai phóng chủ trương chuyển truyền thụ tri thức thành phát triển năng lực bằng cách tạo điều kiện cho người học tham gia trải nghiệm thực tiễn. Thực tiễn mới là tri thức đích thực khai phóng mọi năng lực sáng tạo.

Trẻ em cần phát triển năng lực chứ không phải cần sự hoàn thiện, bởi bản thân một đứa trẻ đã là con người hoàn thiện. Có nghĩa là, giáo dục không mang nghĩa uốn nắn trẻ em theo khuôn mẫu có sẵn mà kích thích sự phát triển theo nhiều hướng khác nhau. Điều giáo dục cần quan tâm là, 1) Trẻ em làm được điều gì? 2) Điều gì trẻ em cần sự giúp đỡ của người lớn? và 3) Điều gì trẻ em cần làm một mình?

Quan sát hoạt động trẻ em, dễ thấy, ngay từ khi bước ra cuộc đời, mọi hoạt động của trẻ đã là hoạt động trải nghiệm. Quan sát này có thể gợi ý cho giáo dục một quy trình cơ bản trong việc phát huy năng lực sáng tạo:

1) Trải nghiệm cơ bản: trải nghiệm này thuộc bản năng sinh tồn. Trước một thử thách đơn giản, trẻ có thể tự điều chỉnh hành vi phù hợp không chỉ với môi trường tự nhiên mà còn với hoàn cảnh xã hội để tồn tại.

2) Trải nghiệm sáng tạo: trải nghiệm này thuộc tư duy. Trẻ biết suy nghĩ làm ra một cái gì đó khác đối với nó bằng tất cả sự hứng thú và say mê. Biểu hiện rõ nhất là từ trò chơi giả bộ hay đóng vai, đến sáng tạo thực sự, tức tạo ra cái mới, cái độc đáo.

3) Trải nghiệm khám phá: là một hướng khác của tư duy. Trẻ tham gia khám khá thế giới bằng quan sát, thí nghiệm và khái quát. Trải nghiệm này có tính chất chuyên biệt theo con đường của khoa học. Tất nhiên khoa học cũng rất cần sáng tạo. Những trực giác, tưởng tượng tuổi thơ với những phát hiện bất ngờ, như trường hợp A. Popov, T. Edison, A.Einstein, đã mở ra những phát minh khoa học vĩ đại. (H.15)

Hình 15

Hình 15

Quy trình sáng tạo được biểu thị như một biện chứng giữa rung động, hứng thú – tưởng tượng đến sản xuất cái mới. (H.16)

Hình 16

Hình 16

Trò chơi giả bộ được xem như một sự tham dự vào tiến trình của đời sống và văn hóa. Trẻ thường đóng vai con vật, loài vật như một trải nghiệm với môi trường tự nhiên để hòa nhập vào tự nhiên. Chúng cũng hay đóng vai người lớn như một trải nghiệm đời sống xã hội để hòa nhập vào môi trường xã hội.

Trò chơi nói chung, đặc biệt là trò chơi giả bộ, theo Vygotsky, đối với trẻ như là một nguồn mạch của hoạt động sáng tạo căn bản. Bởi vì, đóng vai là sự hóa thân vào cái khác để làm ra cái khác, như hóa thân vào con vật, loài vật, hoặc hóa thân vào người lớn như một sự trải nghiệm để làm ra cái khác mình. Từ đó, trẻ phát triển sang hoạt động sáng tạo cao hơn: sáng tạo văn hóa, đóng góp vào sự phát triển văn hóa chung. Các hoạt động vẽ tranh, chơi nhạc, kịch nghệ… phát triển từ trò chơi giả bộ.

Trò chơi giả bộ ở trẻ em như là sự trải nghiệm để phát triển kinh nghiệm đời sống tự nhiên và xã hội, hiểu biết thế giới bên ngoài và đánh thức tiềm năng bên trong não bộ.

Trò chơi như là phương tiện trị liệu tâm lí giúp trẻ tự tin và dễ dàng hòa nhập.

Quan điểm của Vygotsky: Cái trẻ con cần người lớn giúp đỡ hôm nay sẽ là hoạt động của nó trong ngày mai. Giáo dục kích thích từ vùng phát triển gần đến vùng phát triển xa.

Điều kiện để trẻ có được sáng tạo là sự tự do. Hãy tạo ra những khoảng trống cho trẻ phát huy sáng tạo. Mọi sắp đặt hay ràng buộc đều không kích thích sáng tạo mà chỉ gây ức chế, trói buộc trẻ em vào lối mòn.

Một sáng tạo có thể là một sự ngẫu nhiên, một hứng thú tình cờ bởi sự tự do của nó. (H.17)

Hình 17

Hình 17

Chuyện vui về một sáng tạo rất ngắn (Very short creative process): Đấm vào bức tranh: (H.18)

Hình 18

Picture18

Hình 18

Trừ sáng tạo ngẫu nhiên – ngẫu hứng không cần học tập, có thể tổng hợp thành 3 phương pháp kích thích sáng tạo được đề xuất từ những nhà giáo dục cấp tiến:

1) Brain Storming: Thuật ngữ này do Alex Osborn đề xuất và sử dụng trong cuốn sách Sự tưởng tượng được áp dụng (Applied Imagination) và Năng lực sáng tạo của bạn (Your Creative Mind) [8]. Phương pháp này áp dụng cho từng nhóm nhỏ hoặc cá nhân. Nghĩa đen là “đột kích vào não bộ” bằng chính những cái đã có, nhưng những cái ấy hoàn toàn khác lạ đến từ những nơi khác nhau, mang bản sắc khác nhau và đều được thừa nhận bình đẳng. Tôn trọng những khác biệt và tương tác của những khác biệt sẽ tạo ra cái mới. Trường hợp Jean-Michel Basquiat, nghệ sĩ da đen người Mỹ, đã trở thành một ngôi sao nghệ thuật quốc tế khi biết cách sử dụng các kí hiệu, biểu tượng khác nhau đến từ Haitian, Puerto Rican và những nền văn hóa khác nhau của người Mỹ gốc Phi theo cách brain storming. Các yếu tố đường nét, màu sắc, hình dạng mang bản sắc thổ dân được phát triển thành các kí hiệu, biểu tượng mang tầm quốc tế [9]. (H.19)

Hình 19

Hình 19 – Tác phẩm của Basquiat

Cũng có thể phát triển ý tưởng của nhiều người trong một nhóm để tạo ra ý tưởng mới. Chẳng hạn, một nhóm những người mang ý tưởng khác nhau có thể góp phần tạo ra một bức tranh hay một câu chuyện một cách ngẫu hứng, người này kế thừa phát triển ý của người kia, từ đó tạo ra một bức tranh hay câu chuyện bất ngờ ngoài dự định và ngoài khuôn khổ.

2) Lateral Thinking: Thuật ngữ này do Edward de Bono đề xuất trong quyển Lateral Thinking [5]. Nghĩa đen là suy nghĩ một chiều, một phía. Đúng nghĩa phải là suy nghĩ bên lề, suy nghĩ nằm ngoài thói quen truyền thống, hoặc vượt ra khỏi sự chi phối bởi cái trung tâm – chính thống. De Bono định nghĩa: “Lateral Thinking được sử dụng để thay đổi các quan niệm và nhận thức thay vì cố gắng một cách cứng nhắc với các khái niệm và nhận thức tương tự”. Vấn đề đơn giản như mở một cánh cửa, hãy thử đưa ra một số giải pháp mới, ngoại trừ vặn núm cửa. Khi xóa bỏ thói quen thông thường, tự nó tạo ra một cách tiếp cận mới và sinh ra kết quả mới. Giống như Einstein loại trừ các định luật của Newton đang thống trị vật lí học cổ điển để tìm ra công thức khác khi giải thích vũ trụ vật lí của chúng ta. Cái bên lề thường là cái năng động hơn cái trung tâm, nó xóa bỏ những định kiến đã có để làm ra cái chưa có, kết quả bất ngờ chưa ai nghĩ tới. Các thiên tài sáng tạo, trong nghệ thuật cũng như trong khoa học, thường chọn vị thế bên lề, phi chính thống để làm nên những cuộc cách mạng vĩ đại trong nhận thức và trong sáng tạo. Các bức tranh của V. Van Gogh hay P. Picasso, đặc biệt, như trường hợp M. Duchamp, những bức tranh làm từ rác sau đó, là những cách nhìn bên lề dọn đường cho nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại đi vào cuộc sống. (H.20), (H21)

Cái gì khi hết giá trị thực dụng tự nó có thể phục sinh giá trị thẩm mĩ, bởi con người khi làm ra mọi thứ đều nhào nặn từ ý thức thẩm mĩ:

Cái bồn tiểu của M. Duchamp

Hình 20 – Cái bồn tiểu của M. Duchamp

Chân dung Obama được làm từ rác thải

Hình 21: Chân dung Obama được làm từ rác thải – Jason Mecier

3) Problem Reversal: Charles Thompson đề xuất thành phương pháp trong quyển sách Thật là một ý tưởng tuyệt vời (What a Great Idea) [10]. Phương pháp này còn gọi là đảo ngược hay phản biện vấn đề. Bất cứ vấn đề nào, dù có sự đồng thuận tuyệt đối, cũng đều có thể lật ngược để phát hiện ra cái mới như một nhu cầu hủy – tạo trong trò chơi sáng tạo. Bức tranh Đây không phải là cái tẩu thuốc của Rene Magritte là một cách lật ngược vấn đề, phá hủy thói quen nhận thức nghệ thuật như một sự phản ánh hiện thực. Kiệt tác kinh điển Mona Lisa của Leonardo da Vinci bị M. Duchamp vẽ nhọ bôi hề thành tác phẩm giễu nhại đặc trưng hậu hiện đại. (H.22)

Hình 21: Nàng Mona Lisa với bộ ria mép

Hình 22: Nàng Mona Lisa với bộ ria mép (nguyên mẫu và bản mới của Duchamp)

Ngay trong lĩnh vực khoa học, tưởng tri thức chỉ có chân lí tuyệt đối, trong khi nó vẫn luôn bị phản biện và đảo lộn. Từ tiên đề Euclid đến phi Euclid, từ thuyết Địa tâm truyền thống đến Nhật tâm của Copernicus, từ Vũ trụ tuyệt đối của Newton đến Tương đối luận của Einstein… là những minh chứng cho sự thay đổi tri thức trong quá trình sáng tạo liên tục của nhân loại. Phản biện là nhu cầu đồng thời là sự sống còn của thế giới đương đại.

5. Thay lời kết

Ken Robinson

Ken Robinson

Ken Robinson, nhà tư tưởng về sự đổi mới và phát triển nguồn nhân lực của thế kỉ XX, tuyên bố: “theo thời gian những đứa trẻ trở thành người lớn, hầu hết trong số đó đã đánh mất năng lực sáng tạo của chúng; chúng trở nên lo sợ rằng chúng đã sai – chúng đã không được giáo dục về sự sáng tạo.”

“Tại sao điều này lại xảy ra? Nhược điểm có trở thành sáng tạo không? Việc khuyến khích khả năng sáng tạo có nghĩa là khuyến khích vượt ra khỏi những quy tắc và các giá trị thông thường đang tồn tại của xã hội. Mục đích chủ yếu của khả năng sáng tạo là đặt ra những chất vấn về các phương pháp cũ và tìm kiếm những phương pháp mới và tốt hơn, và chắc chắn những phương pháp không phải lúc nào cũng phù hợp với thế giới mà chúng ta đang sống. Sự tương quan và khả năng sáng tạo luôn đi theo những hướng riêng biệt” [12].

Rõ rằng, sáng tạo không có chuyện đúng hoặc sai mà chỉ có hứng thú hoặc nhàm chán. Một nền giáo dục chỉ biết phán xét đúng/ sai chỉ có thể gia tăng nguy cơ tự kỉ – người ta không đủ tự tin để nghĩ và làm ra cái mới. Mối đe dọa lớn nhất mà con người hiện đại đang đối mặt không phải là cái sai mà là chính mình, khi những khuôn thước đã nhồi vào trong não bộ bắt mình làm nô lệ mà mình không biết. Để vượt qua điều đáng sợ ấy, con người cần tự do trong suy nghĩ, tức nó đang rất cần một nền giáo dục khai phóng.

Chúng ta thấy quan điểm của John Dewey [7] từ thế kỉ trước được UNESCO phát triển thành vấn đề toàn cầu hiện nay, rằng giáo dục phải rèn luyện tính tự do, tự chủ của mỗi cá nhân và kĩ năng tương tác với xã hội; tính tự do, tự chủ và kĩ năng tương tác ấy là điều kiện thiết yếu của sáng tạo./.

———————————————-

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Châu Minh Hùng (2013), Phân tâm học cấu trúc và lí thuyết ngôn ngữ của J. Lacan, trong Văn học hậu hiện đại, lí thuyết và thực tiễn, NXB Đại học Sư phạm.

2. J.J. Rousseau (Lê Hồng Sâm, Trần Quốc Dương dịch) (2010), Émile hay là về giáo dục, NXB Tri thức.

3. Leonard Shlain, (Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều dịch) (2010), Nghệ thuật và Vật lí, những cái nhìn tương đồng về thời gian và ánh sáng, NXB Tri thức.

Tiếng Anh

4. Anne Bamford (2007), Measuring the impact: Research into arts and cultural education, http//www.waxmann.com.

5. Edward de Bono (1970), Lateral Thinking, Published January 1st 1991 by Penguin UK.

6. Michel Foucault (1982), “The Subject and Power” in Beyond Structuralism and Hermeneuti, University of Chicago, 208pp.

7. Good (2006), A Search for Unity in Diversity: The “Permanent Hegelian Deposit” in the Philosophy of John Dewey. Lexington Books.

8. Alex Osborn (1991), Your Creative Mind, published by Motorola University Press.

9. Jean Piaget (1931), The Spirit of Solidarity in Children and International Cooperation, in Educational Survey 2, no. 1, January 1931, by the League of Nations.

10. Charles Thompson (1992), What a Great Idea! HarperPerennial; 1st edition.

11. J.V. Wertsch (1985). Cultural, Communication, and Cognition: Vygotskian Perspectives. Cambridge University Press.

12. Các trang mạng tổng hợp:

http://sixrevisions.com/creativity/how-to-create-creativity/
http://ucsj.dk/alece,
http://www.waxmann.com/,
http://www.instructionaldesign.org/theories/social-development.html
http://idesign.vn/content/an-tuong/kien-thuc/

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!