“Pháp luật tối đa” và “đạo đức tối thiểu”

Standard

Pol Pot (1928 -1998)

Pol Pot (1928 -1998), người điển hình thực hành Marx bằng bạo lực

Chu Mộng Long – Trong một lần giới thiệu bài viết của giảng viên triết học Nguyễn Thanh Hải, tôi từng nói: Ít nhất, Marx đã bị xuyên tạc đến 3 lần làm cho Marx không còn là Marx nữa. Lần thứ nhất do chính những tín đồ trung thành một cách giáo điều rao giảng lú lẫn cái Marx chưa hoàn tất. Lần thứ hai do những kẻ láu cá biên tập lại Marx theo động cơ quyền lực của kẻ láu cá. Và kết quả là, lần thứ ba do những kẻ thù địch chủ nghĩa Marx lợi dụng sự giáo điều hoặc láu cá ấy để chống Marx.

Và Marx đang trở thành một bức tranh hí họa của thời đại mất niềm tin và nhiễu loạn thông tin.

Nhưng hy vọng để có một ai đó đọc hết Toàn tập Marx – Engels để hiểu đúng chủ nghĩa Marx thì người đó đã mất hết một đời người và anh ta chẳng kịp làm gì. Cho nên cái tệ của triết gia là, với anh ta, mọi thứ đều dở dang, cho đến mấy đời sau, dù có nhiều người kế thừa trung thành sự nghiệp của anh ta thì vẫn cứ dở dang.

Tôi tin bài viết sau của giảng viên Nguyễn Thanh Hải giúp ta hiểu phần nào một khía cạnh quan trọng của chủ nghĩa Marx, dù đây là vấn đề không dễ hiểu, có thể đi đến những tranh luận không hoàn kết.

Rốt cuộc, đúng sai sẽ không nằm ở lý thuyết mà ở hành động. Nhưng từ hiểu đến hành động đúng như sự hiểu ấy là một khoảng cách bằng đi bộ hết một vòng của Trái đất. Và khi không thể đi đến nơi cần đến, người ta thường tưởng tượng hão huyền, kết quả là sự bốc phét để tự sinh ra một lý thuyết đèn cù, thô thiển và hão huyền hơn như chúng vẫn từng sinh ra trong lịch sử tư tưởng của nhân loại.

————————————-

“PHÁP LUẬT TỐI ĐA” VÀ “ĐẠO ĐỨC TỐI THIỂU”

Nguyễn Thanh Hải

Bạo lực, cường lực và cưỡng bức

Sự thiếu hiểu biết hoặc cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Marx, đã khiến chủ nghĩa Marx bị đồng nhất với đấu tranh giai cấp, nghĩa là bạo lực, chuyên chính, độc tài…

Sống trong cái xã hội mà lòng hận thù giai cấp đã trở thành thâm căn, Mao không thể không lợi dụng Marx với nguyên tuyên “quyền lực trên nòng súng”. Lenin, trong bối cảnh lịch sử thù trong giặc ngoài của một chính quyền trứng nước, ông không thể không thấy “sự cần thiết phải giáo dục cho quần chúng về những tư tưởng ấy và chính ngay những tư tưởng ấy, tư tưởng bạo lực cách mạng là nền tảng của toàn bộ học thuyết Marx”.

Việc đòi hỏi người marxist chân chính phải phát triển lý luận về đấu tranh giai cấp chống áp bức, bất công sang thừa nhận chuyên chính vô sản là một hình thức thủ tiêu áp bức, chứng tỏ Lenin không gộp hai vấn đề ấy là một. Có thể đây là một lý do, nếu không còn lý do cơ bản nào khác, khiến ông đã công khai cảnh báo BCHTƯĐCSLX về Stalin, một con người tài năng nhưng thô bạo với đồng chí, đồng bào.

Phân tích đặc trưng xã hội thuộc địa An Nam, Hồ Chí Minh khẳng định “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”, vì vậy, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc An Nam mang tính quần chúng nhân dân, nên “Chính phủ làm hại Dân, Dân có quyền đuổi Chính phủ” (Hồ Chí Minh).

Nếu biết cách căn cứ mà dựa vào thư gửi cho Weydemeyer đề ngày 5/3/1853 thì Marx đã không nhận về mình cái “công lao” mà cho đến ngày nay người ta vẫn, kể cả những ai đơn thuần chỉ vì “giận cá…”, gán cho Marx. Khi đấu tranh chống lại thứmà các đối thủ tư tưởng của Marx phủ định, nhằm tránh né một sự “phê phán bằng vũ khí”, Marx buộc phải nhấn mạnh vào nó như là một cuộc “sấm sét tư tưởng đánh một cách triệt để vào cái mảnh đất nhân dân hãy còn nguyên vẹn” nhằm thức tỉnh “sư tử bắt thỏ tất phải dùng hết sức”, và phủ định lại cái mà các đối thủ tư tưởng kia tìm cách níu chân. “Và điều đó được nói ra trong một hoàn cảnh có một cao trào lớn về đạo đức và tinh thần vốn là kết quả của mỗi một cuộc cách mạng thắng lợi! Và điều đó lại được nói ra ở nước Đức là nơi mà một sự va chạm mãnh liệt – mà người ta bắt nhân dân phải chịu đựng – ít ra cũng có cái lợi là nhổ hết tinh thần nô dịch đã thâm nhập vào ý thức dân tộc sau sự nhục nhã của cuộc chiến tranh ba mươi năm”1.

Engels hiểu rằng “mọi việc dùng bạo lực đều làm cho kẻ sử dụng nó suy đồi về đạo đức” nên ông thường xuyên cảnh báo những “tham vọng bắt đảng cách mạng nhất từ trước đến nay trong lịch sử phải theo nó”.

“Và nếu ông Duyrinh bao giờ cũng chỉ có một chữ “bạo lực” để giải thích vấn đề đó, thì với lời giải thích đó chúng ta chẳng nhích hơn được một bước nào. Chỉ riêng cái sự thật đơn giản là trong mọi thời kỳ, những người bị trị và bị bóc lột đều đông hơn những kẻ thống trị và những kẻ bóc lột rất nhiều, và do đó sức mạnh thật sự bao giờ cũng nằm trong tay những kẻ bị trị và bị bóc lột – chỉ riêng cái sự thật đó cũng đủ để làm sáng tỏ tính chất vô lý của lý luận về bạo lực” 2.

Trong đấu tranh tư tưởng việc nhấn mạnh vào điều mà đối thủ tư tưởng phủ nhận để phủ nhận lại cái mà nó khẳng định là lẽ bình thường. Nhưng nếu vì thế mà bây giờ những người không thích Marx, hay bất lực bởi yêu cầu phải làm theo đúng chỉ dẫn của Marx mà biến toàn bộ lý luận của các ông thành những định đề: thay vì vạch rõ nguyên nhân sau các sự kiện lại hối hả lắp đặt một hệ thống công nghệ “thực trạng và giải pháp” thì là thiếu trách nhiệm không chỉ về pháp lý mà còn cả về đạo đức.

Marx hoàn toàn không chịu trách nhiệm về những ai mạo danh ông, đe dọa sử dụng và đã không do dự sử dụng bạo lực, kể cả việc này đối với lao động, tuy là mọi hành vi bạo lực suy cho cùng đều là hành vi bạo lực đối với lao động. Bởi kẻ sử dụng bạo lực không phải ai khác – luật pháp của những nhóm xã hội đã chiếm đoạt được những điều kiện phát triển lao động.

Với Marx, trong những giai đoạn tiền tư bản, lúc đầu những điều kiện của sản xuất không phải là kết quả của sản xuất, mà là những điều kiện tự nhiên bên ngoài. Sau đó, từ chỗ lấy tự nhiên làm tiền đề đến chỗ lấy sản phẩm do con người tạo ra làm cơ sở chủ yếu đã làm thay đổi căn bản cơ cấu hoạt động. Khi này mối liên hệ giữa những con người ta với nhau cũng phải thay đổi theo. Những cộng đồng tự nhiên thuần phác của con người dần dà từ ngơ ngác đến thất vọng cay đắng trước những biện pháp làm gia tăng của cải cá nhân bất chấp đạo đức đang được triệt để thi hành. Đạo đức càng sa ngã thì người sở hữu trực tiếp là người lao động cũng khốn nạn. Chế độ tư hữu mà ở đó người sở hữu tách khỏi quá trình lao động trực tiếp trở nên phổ biến, kéo theo nó là cái hệ lụy “cừu ăn thịt người”. Chí Phèo không thể trở thành anh nhà quê lương thiện chừng nào những điều kiện khách quan để anh ta “cày thuê cuốc mướn”; “trồng dâu nuôi tằm”; “sắm dăm ba sào vườn”; “nuôi lợn nái làm vốn”còn tách khỏi anh ta… Thế rồi cái cơ chế sản xuất từ trong sản xuất dịch chuyển vào quá trình trao đổi sản phẩm của các “quý ông” đã làm sản sinh thứ của cải chỉ làm mê mẩn con người tồn tại dưới “hình thái tiền”, mà nay thì người ta thuận miệng gọi tuốt là “đô-la”.

Đô-la cứ nhiều…, nhiều đến mức mọi hành vi đều chỉ là nhằm cho việc “bỏ túi” thì là tư bản “đứt đuôi con nòng nọc”! “Tư bản không hề phát minh ra lao động thặng dư. Nơi nào mà bộ phận xã hội chiếm độc quyền về những tư liệu sản xuất thì nơi đó người lao động, tự do hay không tự do, đều buộc phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống bản thân mình một số thời gian lao động dôi ra dùng để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất” 3.

Trở thành tư bản thì nó phải đạp đổ xuống chân nó những quan hệ chất phác và dìm luôn “những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, tinh thần hứng khởi nghĩa hiệp… xuống dòng nước giá ngắt của sự tính toán vị kỷ […] (nó tha gì mà không – NTH) xé toang tấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình, và biến những quan hệ ấy chỉ còn là những quan hệ đơn thuần trả tiền ngay”.

Nó tàn nhẫn như thế, sao lại có thể trách Marx không thể không căm giận xã hội tư bản được. Ông đã lấy sự phẫn nộ lý trí thay cho sự phẫn nộ tình cảm mà chỉ ra đạo đức của người bị tước đoạt phải là “tước đoạt kẻ đi tước đoạt”. Tiếc rằng, Marx đã như Prometheus với những chiếc nêm Hephaestus mà thời gian khiến ông không nhiều cơ hội bàn sâu hơn về sách lược của quá trình “tước đoạt kẻ đi tước đoạt”. Thế nhưng những những gì ông đã làm được đã quá đủ đối với cuộc đời của một con người. Còn như nó là hoàn toàn cho kẻ “bạo hổ bằng hà” chỉ biết mỗi sự “vin cành”, thì ông đâu vì thế mà trở nên đúng hoặc sai. “Chính ngay Tuyên ngôn cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy không nên quá câu nệ những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II”4. Một thời kỳ người ta lấy phương châm “Hạnh phúc là đấu tranh” (Marx), rồi vin vào đó, quả quyết chỉ ai tham gia vào công cuộc đấu tranh giai cấp một mất một còn người đó mới xứng đáng có hạnh phúc, tức đạo đức. Và hạnh phúc ấy sẽ tùy thuộc vào các mức độ khác nhau của sự tham gia, nếu đúng, thì thời kỳ đó cũng đã đi qua.

Bây giờ thì sự phát triển của nhận thức và sự trưởng thành của chính trị khiến ai cũng thấy rõ hơn rằng, mệnh đề “Hạnh phúc là đấu tranh” kia không hàm chứa một định nghĩa, vì khác loại. Marx muốn con gái mình hãy như mình: vào một ngày tháng tám năm 1835, tại trường trung học Fridric Wilhem, thành Toria bên sông Moden, trong một kì thi tốt nghiệp, khi tiếp đề: “Suy nghĩ của một thanh niên khi chọn nghề” từ tay Ban giám khảo, chàng trai, nay trở thành người làm cha đã viết, “Lịch sử thừa nhận những vĩ nhân là những người làm việc cho mục đích chung, và do đó bản thân họ cũng trở nên cao thượng hơn; kinh nghiệm cho thấy rằng người nào đem lại hạnh phúc cho nhiều người nhất thì người đó là kẻ hạnh phúc nhất”5. “Kẻ vô thần không phải là kẻ bác bỏ các vị thần của đám đông, mà chính là kẻ hùa theo ý kiến của đám đông về các vị thần” 6.

Có mấy người cha đã dạy con mình được những lời như vậy !   

Nhân loại vừa cảm nhận nỗi đau trước sự ra đi không hề đột ngột của Nelson Mandela, như từng đã như vậy trước sự ra đi của Đại tướng Giáp và trước đó nữa là Hồ Chí Minh. Trước mỗi người anh hùng của dân chúng, người ta bỗng cảm nhận ra nỗi cô đơn mà biết rõ hơn cách thức vượt lên chính mình. Đó không phải là hạnh phúc, thì hạnh phúc nằm ở đâu ? Uy lực chính trị không phải ở quyền lực, bởi nó chỉ là sự vay mượn ở đạo đức khi hạnh phúc của một bộ phận này trở thành tai họa của một bộ phận còn lại kia.

 Pháp luật là thảm bại của đạo đức

Khi Thừa chỉ Nguyễn Trãi được hỏi về bảy tên tử tội “đều còn ít tuổi”, ông lấy “Tri chỉ nhi hậu hữu định” trong Đại học ra giảng giải cho vua, rồi: “Pháp lệnh không bằng nhân nghĩa, cũng rõ lắm rồi. Nay một lúc giết bảy người, sợ không phải là việc đức tốt”. Bấy giờ bọn Sát và Ngân nói: “… hãy giao những kẻ ăn trộm ấy nhờ ông cảm hóa cho”… Trãi nói: “… hạng trẻ con ương ngạnh, ranh mãnh, pháp luật của triều đình còn không thể trừng giới được, huống chi bọn chúng tôi ít đức…” 7

Vì quá coi trọng của cải quý hiếm mới sinh ra trộm cướp, quá “trọng dụng” kẻ hiền tài mới làm nảy sinh cơ sự con người đua chen để làm chuyện a dua (Lão Tử). Điều đáng nói không phải đừng trọng của cải, đừng yêu “kẻ hiền” mà là đừng ban cho “hiền tài” vật quá nên dùng, khiến con người ta cứ phải a dua như Hồ Xuân Mãn. Một khi đã “sùng hiền” thì xã hội ắt phải loại ra quá nhiều những người không được coi là “tử tế” mà thành thất đức. Người phương Đông coi tội lớn nhất là tội báng bổ, nên người “tử tế” chỉ có thể mới là người làm vang vẻ tổ tiên. Đó là phúc đức! Nhưng “con hơn cha” đáng lẽ ra là tu thân tề gia thì đem quy đổi ra thành tiền và quyền. Mà “vinh thân phì gia” đâu phải dành cho tất cả, bởi ai đâu thừa nhận sự ngang bằng nhau về “năng lực”. Khi pháp luật nhân danh xã hội thì còn có sự “vua sai người đi hỏi ngầm trong nước” khiến “kẻ kiếm củi làm nghề cũng đều tỏ hết khả năng” . Khi xã hội được pháp luật nhân danh thì xã tắc lại cúi “xin bệ hạ… phải ngay ngắn tôn nghiêm, lấy dung nghi nghiêm chỉnh của thiên tử mà kính người đại thần, chọn người có công, nghe người can thẳng, mở đường cho người nói để thấu suốt tình người dưới, thì lời khen đại hiếu nối chí theo việc không chỉ chuyên để khen…” 8

Lúc vỡ lẽ ra cơ sự không hợp “đạo pháp tự nhiên” thì pháp luật lạnh lùng “thảy” một cái mà để lại cho đạo đức nỗi vật vã đớn đau… Nghe qua, “đối chiếu với những vụ án đã xảy ra, có thể thấy, tình hình đang rất đáng ngại; phần đa các vụ cướp đều có tính băng nhóm, có kẻ cướp thừa nhận gây án vì…đói […]. Một sự thật xót xa ở thành phố lớn nhất Việt Nam”9.

Đạo đức và quyền lực

Theo Socrates đạo đức là sự thông hiểu. Nhưng nếu hiện đại hóa ông bằng sự hiểu biết khoa học thì Socrates khi ấy còn chưa biết đến nó nên chỉ mong muốn có được sự nhận thức rõ ràng thiện và ác, công lý và phi lý, là những điều kiện cần và đủ cho đức hạnh mà thôi. Nó cần vì người nào không nhận ra được điều tốt hơn để thực hiện hạnh phúc sẽ phạm phải sai lầm và lỗi lầm hạnh kiểm. Nó đủ vì người nào thật sự hiểu biết giá trị của hành động nào đó sẽ góp vào hạnh phúc thì không lẽ nào người đó không làm. “Cho nên bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật, để dạy các quan, dưới đến nhân dân, cho biết thế nào là thiện ác, điều thiện thì làm, điều ác thì lánh, chớ có phạm pháp”10 là bổn phận của người đứng đầu xã hội trọng giáo lấy đạo đức “lập uy”.

Thay vì cứ mải ra cho sinh viên những câu đề thi chỉ để đánh giá sự cần cù chịu khó, kỳ thi này tôi đã phải giải đáp cho nhiều người trong số họ: Vai trò của kiến trúc thượng tầng chính trị trong thời đại ngày nay tăng lên tuyệt đối là đặc điểm nổi bật của quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.

Khi cơ sở hạ tầng của mỗi xã hội là cơ sở kinh tế của tất cả các hiện tượng xã hội bên ngoài sản xuất, thì đặc trưng của kiến trúc thượng tầng với sự chi phối của những quan điểm chính trị tư tưởng cùng với cái thiết chế bạo lực tương ứng đối với toàn bộ đời sống xã hội, chỉ là hình thái biểu hiện tập trung của đặc trưng cơ bản của cơ sở hạ tầng với những điều kiện phát triển lao động đã bị tước đoạt. Nếu kinh tế là mục đích của chính trị thì chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Một đường lối chính trị đúng đắn là điều kiện tiên quyết để cho một giai cấp nào đó hoàn thành được nhiệm vụ của nó trong sản xuất.

Điều này khiến không một giai cấp, đảng phái nào lại buông lỏng việc sử dụng bạo lực.

Nhưng cách thức sử dụng bạo lực thì lại nảy sinh rất nhiều vấn đề, trong đó “chính quyền trên nòng súng” lấy bạo lực làm bà đỡ cho mọi chính sách kinh tế, kể cả cho những chính sách kinh tế không có tính khả thi, thì rùng rợn quá. Trung Quốc “thời của Thánh sống”, Bắc Hàn thời của cậu bé lớn xác chưa đủ thời gian để đọc trọn “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” mà lại làm theo được chủ nghĩa Marx, thì quả là “bố Thánh”! Chủ nghĩa Marx đâu phải sân chơi thể thao… “Điều đó đã đem lại cho kẻ thù của chúng ta cái cớ hằng mong muốn để giải thích méo mó, cũng như để xuyên tạc” (F. Engels).

Nhưng Engels: “về phương diện này tất cả chúng ta đều có lỗi như nhau. Cụ thể là chúng tôi đã và đã phải nhấn mạnh chủ yếu trước hết đến sự thật là những quan niệm chính trị, pháp lý và những quan điểm tư tưởng khác và những hành vi do chúng quy định đều được rút ra từ cái thực tế kinh tế là cơ sở của chúng. Đồng thời, lúc bấy giờ vì nội dung mà chúng tôi đã coi nhẹ vấn đề hình thức: sự hình thành những quan niệm đó diễn ra bằng những con đường nào…”11         

Ý thức pháp quyền ra đời từ nhu cầu tập họp dưới một quy tắc chung, những hành vi sản xuất, phân phối và trao đổi. Làm thế nào để có thể mọi người phải phục tùng những điều kiện chung của sản xuất và trao đổi? Quy tắc này thoạt đầu là một thói quen. Giải thích pháp quyền không thể chỉ khư khư vào kinh tế nói chung mà bỏ ngoài tất cả các yếu tố cụ thể của đời sống kinh tế xã hội đã quy định ý thức pháp quyền. Ý thức này tuy là sản phẩm của những giai đoạn phát triển kinh tế, của những giai cấp và quan hệ giai cấp nhất định, được hiểu gắn với những thiết chế chính trị xã hội. Thế nhưng, không phải cứ có được những thứ như thế là có được ngay những quy tắc chung. Bởi quy tắc chung đều biểu hiện thông qua hoạt động của con người, mà trước hết là người lao động, khác với nhà sản xuất ra luật pháp.

Cái được là cái đáng phải mất

Vận động trong sự đối kháng lợi ích phải dựa vào bạo lực, nên những gì mà nhân loại hiện đại đang có được là rất quan trọng, đặc biệt khắc phục tình trạng lao động khổ sai và đói ăn phổ biến. Nhưng vì thế mà ghi nhận như một thành quả của hàng triệu quần chúng trong sự nghiệp sáng tạo ra trật tự mới, khỏi tình trạng nó là “một sinh vật bị làm nhục, bị nô dịch và bị khinh rẻ”, thì e đã đi quá xa. Vì sự phân phối được tiến hành bằng con đường mua bán thì trong các thủ đoạn chính của nó, sẽ là sự lường gạt của kẻ bán đối với người mua. Đó là thủ đoạn mới của người sở hữu cái nguồn của cải hấp dẫn bậc nhất, đặc biệt trong các đô thị lớn: nhà ở. Lịch sử văn minh để lại gì nếu không phải là việc mở rộng những thành phố hiện đại làm cho đất đai tại những khu phố nhất là tung tâm có một giá trị giả tạo, nhiều khi đến phi lý phi thường; giá trị của những căn nhà cũ tụt xuống, vì không đáp ứng trước những điều kiện mới nên nó phải bị phá bỏ. Đó là tình hình chung đối với nhà ở của người lao động nằm ở trung tâm phải tỏ ra “biết điều” nhường nhịn những hãng buôn, những công sở, khách sạn, nhà hàng, sân chơi cho các đại gia, các khu biệt thự… Kết quả là người nghèo bị đuổi từ trung tâm thành phố ra các vùng ngoại ô là nhà ở của công nhân. Cái được gọi là nhà ở của người lao động trở nên khan hiếm và đắt đỏ và thường là “bói không ra”. Dịch vụ nhà đất hướng tất cả vào những chung cư cho thuê với giá cần cho hoạt động đầu cơ và chứng khoán mà nếu có sự xây dựng nhà ở cho công nhân, trong một vài trường hợp ngoại lệ, thì đó không phải là vì họ. Bởi chính quyền nào thì rồi cũng phải bảo đảm cho những giai cấp mà nó “nương tựa” những điều kiện sinh sống, khiến cho họ, chí ít, sống được trong cái tư thế mặt đối lập của quyền lực chính trị.

“Muốn dùng được một người nô lệ, người ta phải có hai thứ: một là, có những công cụ và đối tượng lao động cho người nô lệ và hai là, có những tư liệu nuôi sống người nô lệ đó một cách nghèo nàn”12. “Và nếu bây giờ các nhà tư sản dùng đến bạo lực để bảo vệ “tình hình kinh tế” đang bị sụp đổ khỏi sụp đổ, thì với điều đó họ chỉ chứng minh rằng…, họ là nạn nhân của đúng cái ảo tưởng coi “chế độ chính trị là nguyên nhân quyết định tình hình kinh tế” […] và của sự phát triển hiện nay của ngân hàng và tín dụng”13.

Một khi tính bất khả trở nên có thể bởi dựa hơi bạo lực đã khiến cho chủ nghĩa tư bản hoang dã sống hết những ngày èo uột thì đó chính là thành tựu của bạo lực hơn là tính bất khả của kinh tế dần trở thành có thể. Các đô thị nguyên thủy ở phương Tây ra đời, gắn với nó là sự hình thành các hãng buôn, các ngân hàng… thường được bắt đầu từ các băng cướp biển giải nghệ bởi không còn can đảm để tiếp tục cá cược may rủi với thần Đại dương, cái khối tài sản khổng lồ mà số phận rủi ro đã có lúc mỉm cười với nó…

Điều này là rất xa lạ đối với chủ nghĩa Marx. Khi nó thường xuyên cảnh báo rằng, một đường lối chính trị có hiệu quả chỉ khi nó chịu sự phụ thuộc vào sứ mệnh lịch sử của một giai cấp đề ra những tư tưởng ấy. Một đường lối chính trị được như thế chỉ khi mâu thuẫn trong sản xuất không quá mức gay gắt so với sức có thể chịu đựng của những quan hệ giữa những con người ta với nhau trong sản xuất.

Là bởi, chính quyền dân sự bất chính hướng tới xâm phạm một cách có hệ thống các quyền tự nhiên của thần dân. Trong cái tình cảnh như vậy thì nổi loạn là một hành vi công chính, giống như “cậu bé” trong một đoạn clip chống lại “bà mẹ” của cậu ở trường mần non tư thục nọ. Tiếc rằng, cậu quá đơn độc trong khi quyền lực đã được thần thánh hóa. Nhưng thông điệp cậu nhắm tới người lớn chúng ta là cái quyền lực mà nhân dân trao cho chính quyền sẽ không bao giờ quay về với họ chừng nào chính quyền còn tồn tại. Tuy nhiên một chính quyền đó thất bại trong nhiệm vụ mà nó được nhân dân thiết định, thì nhân dân phải có quyền hành động với tư cách là quyền lực tối cao. “Dân có quyền đuổi Chính phủ” (Hồ Chí Minh) không có nghĩa là vô chính phủ, mà là nhân dân phải tiếp tục công việc lập pháp, hoặc tạo dựng nên một hình thức chính quyền mới, hoặc vẫn có thể theo hình thức cũ đó nhưng được đặt vào tay những con người tiên tiến đích thực (J. Locke, 1632 – 1704).

Một kiến trúc thượng tầng chính trị Bắc Hàn mà nhiều người, ngay cả kẻ thù của chủ nghĩa Marx cứ “minh định” là xã hội chủ nghĩa, không phải là một sự cố tình xúc phạm chủ nghĩa xã hội là gì. Nó là gì ấy là công việc của những cây lý luận gia. Tôi gọi nó là chủ nghĩa xã hội thế tập. Chủ nghĩa xã hội ấy không phải là không từng có trong lịch sử. Lịch sử không giấu diếm tình hình giới chức cầm quyền của bất cứ một xã hội nào đều là gương mặt kinh tế, chính trị văn hóa tinh thần, đạo đức của xã hội ấy. Nền chuyên chính thần quyền Bắc Hàn như ai đều đã thấy, không bảo toàn được cho các thần dân về quyền sống, quyền tự do, quyền sở hữu chỉ có thể tồn tại như một gia đình mà ông bố không hơn kém một tay… bợm nhậu.

Tồn tại là cái hiện tồn…

Trong  Nội chiến ở Pháp, sau khi mô tả toàn bộ diễn biến lịch sử Công xã Pari cũng như tiến trình diễn ra sau nó là kết quả tất yếu của đấu tranh giai cấp, thì tác giả của nó đã đề cập tới điều “kỳ diệu” của sự xuất hiện một cá nhân chính trị: Chie14 – một kẻ “có biệt tài nói dối”. “Lịch sử cuộc đời hoạt động của hắn là lịch sử của những tai họa của nước Pháp”, một kẻ “bậc thầy trong những hành vi lừa gạt nhỏ nhặt về chính trị, có biệt tài bội ước và bội phản; thành thạo trong tất cả các thủ đoạn đê tiện, những mưu mô xảo trá”, “lấy những thiên kiến giai cấp làm tư tưởng, lấy hư vinh thay cho lương tâm, sống một cuộc đời tư cũng nhơ nhớp như cuộc đời xã hội đáng khinh bỉ”… lại có thể trở thành chính khách. Con người Chie “là biểu hiện về mặt tư tưởng hoàn bị nhất cho sự hủ bại giai cấp của chính cái giai cấp tư sản”, đó là tính chất phản động, và là phản bội ngay với chính Tổ quốc của nó. Cho nên, con người như Chie chỉ trở thành chính khách vào đúng cái lúc mà giai cấp tư sản cần tìm kiếm mọi thủ đoạn  để chống lại giai cấp cách mạng nhằm bảo vệ lợi ích của nó. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh như vậy Chie là khuôn mẫu người rất cần cho giai cấp tư sản bấy giờ, nhưng vì thế mà không thể thay đổi được, nghĩa là đáng tồn tại thì chẳng qua chỉ là lời biện minh cho tình trạng hèn nhát đến nhục nhã của thần dân. Một thể chế sẽ không tự sụp đổ nếu không có những cái chí làm cho nó sụp ngay cả khi nó đã mục ruỗng hoàn toàn. Vì nó chỉ là những ảnh phản của những quan hệ kinh tế, mà những quan hệ này không hề tự động nhường chỗ cho những quan hệ tiến bộ hơn. Tình hình đó buộc phải kinh qua đấu tranh. Đấu tranh về lợi ích kinh tế không thể không viện đến bạo lực. Và nếu giai cấp những người bị tước hết quyền không lựa chọn nó thì điều này đồng nghĩa với những con người ấy đã tự động tước bỏ quyền trở thành người, bởi nó không còn phải thực hiện cái bổn phận chăm sóc người già, nuôi dạy trẻ thơ, nương dựa cho kẻ tàn tật, bênh vực kẻ yếu hèn. Nó là vô đạo đức.

Và Marx đã không dừng lại ở đây. Phát triển lý luận về nhà nước với tính cách là một bộ máy bạo lực với các biện pháp cảnh sát mà là những biện pháp cảnh sát tồi, ông cho thấy nhà nước tư sản bắt nguồn từ chế độ phong kiến, từ đối kháng giai cấp không sao có thể điều hòa vì về nguyên tắc nó không thể điều hòa nên nhà nước là một vật bảo chứng cho sự áp bức giai cấp. Ông chỉ ra, đặc điểm của một nhà nước đã trở nên phản động thì nó “tựa hồ như bay lượn rất cao trên xã hội, nhưng trong thực tế lại là một sự sỉ nhục lớn nhất của xã hội ấy, là cái vườn ươm tất cả những điều thối tha của xã hội”15.

… nhưng trong tính tất yếu của nó

Thất vọng ghê gớm vào một thứ quyền lực vô đạo, Marx trông đợi vào một thiết chế quyền lực có tổ chức được “cắt bỏ những cơ quan thuần túy áp bức của chính phủ cũ nhưng phải đoạt lấy những chức năng hợp lý của nó trong tay một chính quyền xưa nay vốn có tham vọng đứng trên cả xã hội, và đem giao cho những người đầy tớ có trách nhiệm của xã hội (…)

“Thật là một việc kỳ lạ: mặc dù trong 60 năm gần đây, người ta đã từng nói nhiều và viết nhiều về giải phóng lao động, nhưng chỉ cần công nhân ở một nơi nào đó kiên quyết nắm lấy sự nghiệp ấy trong tay thì lập tức, những kẻ biện hộ cho cái xã hội hiện đại với hai cực đối lập của nó là tư bản và lao động nô lệ làm thuê (địa chủ hiện chỉ còn là bạn đường lặng lẽ của nhà tư bản thôi) liền tuôn ra những lời biện giải phản đối họ, làm như thể là xã hội tư bản chủ nghĩa còn hoàn toàn trinh bạch và vô tội! Làm như thể là tất cả những mâu thuẫn của nó còn chưa phát triển, tất cả những sự gian dối của nó còn chưa bị vạch trần, thực trạng bỉ ổi của nó còn chưa bị bộc lộ?”16     

Marx cho chúng ta thấy hy vọng vào một nhà nước đối lập kia không phải là một ảo tưởng, nếu nó, một tổ chức bạo lực kia ấy là một hiện thực. Còn bây giờ thì nó đang tiếp tục chặng đường để đi tới chính nó thể hiện trong một Thông điệp năm mới 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

“Nhìn lại 30 năm qua, những bước phát triển vượt bậc của đất nước đều gắn liền với những đổi mới có tính quyết định về thể chế, bản chất là mở rộng dân chủ, thực hiện cơ chế thị trường trong hoạt động kinh tế mà bước đột phá lớn và toàn diện là từ Đại hội VI của Đảng”. Rằng đất nước đang cần có thêm động lực để phát triển mà “Nguồn động lực đó phải đến từ Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân”.

———————————— 

 

 1 C. Mác và Ph. Ăng-ghen toàn tập, CTQG, 2004, t. 20, tr. 259.

2 Sđd, t. 20, tr. 251.

3 Sđd, t. 20, tr. 219.

4  Sđd. t. 21, tr. 254.

5 http://khoizerg.wordpress.com/2007/10/28/ -marx/

6 C. Mác và Ph. Ăng-ghen toàn tập, Nxb CTQG, 2004, t. 40, tr. 27.

Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb VHTT 2004, t2, tr.145, 146. 

8  x. sđd tr. 141,148, 149

9   http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/156157/cuop-tan-doc-tro-lai-sai-gon-dip-cuoi-nam.html.

10  Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb VHTT 2004, t2, tr. 88. 

11  C. Mác và Ph. Ăng-ghen toàn tập, Nxb CTQG, 2004, t. 39, tr. 132.

12  Sđd, t. 20, tr. 227.

13  Sđd, t. 20, tr. 233

14 Chie (Adolphe Thiers 1797-1877), Thủ tướng (1830-1840), Tổng thống (1871-1873), kẻ thù của Công xã Pari.

15, 16   C. Mác và Ph. Ăng-ghen toàn tập, Nxb CTQG, 2004, t. 17, tr. 448; 449; 456.

 Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Bình luận đã được đóng.