Dân chủ và Tông pháp

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Khổng Tử

Khổng Tử, ông tổ này chủ trương trị dân bằng lễ: “Nhất nhật khắc kỉ phục lễ” để kẻ thống trị an thân bóc lột và hưởng thụ đây!

Chu Mộng Long – Bài viết công phu của một giảng viên triết học về lịch sử Á Đông mà Trung Hoa là cái nôi sinh ra, nuôi dưỡng, kể cả để lại những di chứng xã hội cho toàn khu vực. Nhận thức lịch sử của chúng ta thường bị chặt khúc, cây lịch sử bị mất gốc do các diễn ngôn hiện tại che khuất, cái phi lí được hợp lí hóa bởi quyền lực thống trị như M. Foucault đã chỉ ra.

Khảo cổ học tri thức là nhu cầu của con người hậu hiện đại để nhận thức tận gốc vấn đề. Không làm được điều này, việc tuyên xưng kế thừa truyền thống hay đả phá truyền thống để hướng tới tự do, dân chủ, nhân quyền,… từ cả hai phía đều chỉ là  đánh tráo hay mạo xưng.

Bài viết lật ngược mọi vấn đề và đặt ra câu hỏi lớn: thiết chế xã hội chúng ta đang sống là cái gì vậy? Chúng ta đang theo ông Mác hay ông Khổng,… hay tất cả các ông khác nữa cộng lại?

Kẻ mang động cơ trục lợi sẽ trả lời đơn giản: ông nào có lợi cho tôi thì tôi theo! Thế thì còn gì là chủ nghĩa xã hội mà nhân dân đã đổ ra bao nhiêu xương máu để dựng lên? Nếu là cái lợi chung của toàn dân thì luận thuyết mèo trắng mèo đen còn có chỗ đứng, nhưng lợi ích cho một nhóm đang hình thành với tư cách một giai cấp thống trị mới thì có thể nói một cách công khai rằng, chủ nghĩa Marx đã không hoặc còn lâu mới thành hiện thực. Công việc tuyên giáo chân chính không phải chửi bới La Hét theo lối côn đồ đe dọa cưỡng bức dân chúng “phục lễ” cho kẻ thống trị theo phương pháp của Nho giáo phong kiến mà tuyên truyền giáo dục dân chúng nhận thức rõ bản chất của bọn trục lợi ấy để định hướng dân chúng đấu tranh theo con đường chân chính mà các bậc tiền bối cách mạng đã vạch ra.

———————————–

DÂN CHỦ VÀ TÔNG PHÁP

Nguyễn Thanh Hải

Kinh điển của Nho gia trước hết, chỉ là kết quả chỉnh đốn, san định đối với toàn bộ nguồn tư liệu có trước Khổng Tử từ bảy, tám thế kỷ. Nội dung trong các bộ Kinh: Thi, Thư, Lễ là sự phản ánh lịch sử cổ đại Trung Hoa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ VII tr.CN. Nếu không hoàn toàn như thế thì cũng là từ thế kỷ XII đến thế kỷ VIII tr.CN. Điều này hàm nghĩa, kinh điển Nho gia không phản ánh thời kỳ Khổng Tử mà là ngụ ý áp vào thời kỳ loạn lạc này như một học thuyết quản trị xã hội nhằm bênh vực lợi ích của thế lực cầm quyền, sau thành kinh nghiệm tổ chức nhà nước nhằm đối phó lại các xu thế lịch sử đánh giá lại các giá trị đương trị. Đó là lý do khiến Khổng Tử sinh thời cay đắng thất vọng: chỉ có Trời hiểu ông khi ông chu du chán chê khắp các nước là chư hầu của nhà Chu, ngõ hầu thuyết phục vua các nước này đi theo thuyết của Nho gia tiếp tục thuần phục chế độ tông pháp, nhưng chỉ nhận được những cái lắc đầu(!). Do thế, mà Nho gia đã bị Pháp gia dằn mặt không chút nể nang: thời đã khác sao pháp độ cứ ngoan cố mà không chịu khác(?!).

Theo sử gia nổi tiếng, Viện trưởng Viện sử học Trung Quốc Phạm Văn Lan, thì xã hội phong kiến Trung Hoa có từ thế kỷ XII tr.CN (thời Chu Công với việc ông  phong 800 tước hầu). Còn như theo Pêtơrốp, Viện trưởng Viện sử học Liên Xô thì xã hội phong kiến của nước Trung Hoa này bắt đầu từ thế kỷ II (thời Tam quốc). Nhà văn hóa Quách Mạt Nhược, người duy nhất đọc được Giáp cốt văn tự của 40 thế kỷ trước, từ thời nhà Ân nói, xã hội phong kiến Trung Hoa bắt đầu từ thế kỷ IV tr.CN. Khoa học lịch sử đã chịu sự thuyết phục bởi tư tưởng này!

Đây mới là điều cần nên chia sẻ với nhau quanh vấn đề, có hay không có chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và cả ở Việt Nam? Người nói có không chịu người nói không, ngược lại. Có hay không, không phải là hữu hay vô, mà là Nho gia nguyên thủy tự cái thuở nào và cái nó hiện nay có như nó đã từng vậy? Xã hội Phương Đông là xã hội Nho giáo sao các nước cùng chung sân, đồng thềm Đông Á, mà lại bỏ nhau quá xa? Nguyễn Ái Quốc cảnh báo, “hãy coi chừng!”

Trước Cách mạng Tháng Tám, các làng xã An Nam vẫn còn đang tồn tại chế độ công điền, một di tích kinh tế của chế độ công xã. Nó dai dẳng ở nông thôn như một cơ sở kinh tế của tất cả tập quán lề thói nhà quê, được pha trộn với các di chứng của chế độ nô tỳ, chẳng hạn tệ nạn “bán vợ, đợ con” làm đứa ở cho Nghị Quế hay Cụ Cố nơi hàng Tỉnh, vừa đỡ được miệng ăn lúc giáp hạt, vừa lại còn kiếm thêm được “manh quần tấm áo” mỗi khi tết nhất, hội hè…

Chế độ nô tỳ là tàn tích của chế độ nô lệ kiểu gia trưởng! Việc xác nhận điều này chính là hiện tượng các hào trưởng và cường hào làm “dân anh chị” ở tất cả các địa phương khiến địa phương nào cũng là giang sơn với một thiết chế “nhà nước” biệt lập, mà “phép vua” đành phải chào thua(!). Quan hệ giữa nhà nước và các công xã là quan hệ cống nạp. Quan hệ cống nạp đẻ ra “cơ chế” trên bảo, dưới… “lắc”, vì nó còn tùy thuộc vào thu hoạch, được các nhà văn hóa học macxit tôn vinh là thiết chế dân chủ… làng xã. Dân chủ làng xã là khái niệm cần có để làm cơ sở xã hội cho thời kỳ quá độ. Thật là tai hại cho sự ngộ nhận. Sự này đưa lại một chủ thuyết Việt Nam đã có sẵn những tiền đề kinh tế – xã hội: chế độ sở hữu công xã nông thôn, cộng với thiết chế dân chủ manh nha là nguyên nhân, còn sự sáng tạo cần cù của hàng chục triệu quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ là điều kiện để thực hiện cách mạng không ngừng.

Nghĩa là, Việt Nam có tình hình các hình thái kinh tế – xã hội thay thế lẫn nhau từ thấp lên cao, tương ứng với tình hình này là các cuộc cách mạng xã hội đúng như lý luận triết học về lịch sử của chủ nghĩa Mác(!). Mà không được như thế, vì điều kia cũng không nhất thiết, thì chế độ công hữu làng xã vốn có sẵn, cùng chế độ xã hội công xã nông thôn, kiểu tổ chức xã hội dựa trên cấu trúc làng xã (ngành nghề/ họ mạc) quan hệ xã hội là quan hệ “huyết duyên”, “hương đảng tộc cư” lấy thân tộc, gia đình là quan hệ cơ bản được cải biến bằng cách mạng sẽ cho phép phấn đấu vài ba kế hoạch năm năm… gì thì cũng vượt qua được thời kỳ quá độ. Nhà sử học macxit đinh ninh, nếu chế độ xã hội phân chia thành giai cấp tương ứng với thời kỳ thống trị của đàn ông đối với đàn bà (chữ của Ăng ghen), thì chế độ nô lệ gia trưởng Phương Đông nói chung, đích thị là chế độ xã hội đi trước.

“Có cô nàng xinh xắn

Đi nhanh hơn ánh sáng

Làm một chuyến xa nhà

Sáng nay lên đường sớm

Rồi trở về đêm qua”

(Arthur Buller).

Nay nghe phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan nhẫn nhịn: “Người ta ăn hết của dân, không chừa một thứ gì”… Chết thật, dân chủ làng xã trải bao năm cải biến bằng cách mạng mà sao chỉ bấy nhiêu thôi!

Thế nó vốn là thế nào? Nên chăng tiếp cận vấn đề từ khái niệm mà C.Mác tạm dùng: chế độ công hữu chồng lên các làng xã (bởi sở hữu nhà nước). Phản ánh lại chế độ sở hữu này là chế độ quan lại và bổng lộc. Chế độ quan lại bổng lộc là tiền đề sản sinh các điều kiện vơ vét của chúng dân như triều Lê, trước thời Hồng Đức.

Đó là điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội của xã hội Phương Đông, không riêng Trung Quốc, An Nam hay Cao Ly, Nhựt Bổn… Còn đời sống văn hóa tinh thần là Nho giáo trùm lên cái đời sống vật chất ấy, như là một thứ kỹ nghệ quản trị xã hội. Không phải Nho giáo được nảy sinh từ đời sống vật chất này, chịu sự quy định của đời sống vật chất này nên có chức năng duy trì bảo vệ chế độ kinh tế này. Tuy nhiên, chừng nào nó còn có thể dung túng được cho chế độ kinh tế này thì chừng ấy nó còn làm cho con người ta “đùm bọc” nhau trong cái thiết chế “trong họ/ ngoài làng” theo bổn phận, mà sử gia gọi là thiết chế “hương đảng tộc cư”.

Không có chức năng ấy, nên Nho giáo không ngần ngại áp đặt vào xã hội cái thiên chức không do trời định. Điều này khiến xã hội Nho giáo cứ khật khưỡng và phải miễn cưỡng chấp thuận “nhân định thắng thiên” khi an sinh của kẻ cày cấy  quá hồi nghiêm trọng như ở Nhật Bổn hay xứ sở… Kim chi. Nho giáo quả là một viễn cảnh đi trước thời đại của các tư tưởng gia hiện đại, nó đang cho chúng ta tiếp tục thấy cách thức Nho gia nhìn nhận xã hội Phương Đông trước khi nhà tư tưởng hiện đại tìm kiếm một cách thức mới để tư duy về Châu Á.

Lịch sử tư tưởng Việt Nam ta không khác biệt lắm với lịch sử tư tưởng Trung Hoa. Văn hóa chính trị nước nhà cho thấy, trong khá nhiều thời kỳ, phong kiến Trung Hoa đã áp được cả chế độ, cách thức tổ chức xã hội có tác dụng đưa lại sự biến đổi xã hội vào nước ta. Từ Lý Bôn, các triều đại phong kiến Việt Nam đã không ngần ngại “bắt chước” theo các triều đại phong kiến Trung Quốc với phương cách tổ chức nhà nước hầu như không xa lạ lắm với các vương triều Hán, Đường, Tống, Minh… Giới sử học hiện đại nước ta cứ khăng khăng: nói vậy…, chứ chúng ta đã thành công trong phong trào “chống Hán hóa”. Thật tai hại cho cái tinh thần tự tôn còn cần nhiều sự bổ sung căn cứ… Hiện tại chuyển dần vào tương lai chính trị đất nước với thái độ vừa cẩu thả vừa lười biếng khi chỉnh trang kiến trúc thượng tầng thông qua phát động cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa.

Đáng tiếc, lịch sử hiện đại của đất nước chúng ta đã chưa kịp chuẩn bị cho tương lai một giới học thuật có được cái ảnh hưởng khai sáng của Bêcơn và Đêcactơ, nên cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa ấy đã không được bắt đầu bằng việc đề xuất thái độ phê phán lối tư duy Nho học. Các Mác và Ăng ghen trong khi xây dựng nên học thuyết khoa học, các ông đã để lại cho giai cấp và giới cần lao bài học kinh nghiệm phong phú, nhưng không ai học: sự phê phán triết học từ cổ đại đến đương đại, đặc biệt với nền triết học bởi các triết gia cự phách mà các ông từng rất chịu ơn. Ngay đối với cả người thầy của cách mạng mình, Cụ Hồ Chí Minh, một cốt cách văn hóa Đông – Tây trong “tu thân”, người ta cũng chỉ dừng lại ở sự tụng xưng chứ nếu làm theo chỉ dẫn của Cụ: “Cần phải xem xét lại chủ nghĩa Mác bổ sung cho nó bằng cơ sở xã hội học Phương Đông” thì tình hình lại khác. Trong khi người ta chỉ biết mỗi một phương sách lấy sự vinh thân phì gia cá nhân ra đánh cược!

Lối chơi tao nhã trong các gia đình Hoàng tộc Trung Hoa vẫn còn “ấn tín” trong giới quý tộc mới nước ta: lối thưởng trăng nơi những con suối được thiết kế ngoằn ngoèo trong công viên vương phủ. Những chiếc tràng kỷ bên bờ được sắp đặt hướng xuôi theo dòng chảy… Khi các Hoàng thân, bằng hữu an tọa thì đám kẻ hầu người hạ lặng lẽ bơi những chiếc thuyền con nơi đầu nguồn lần lượt và đều đặn thả trôi các loại rượu thơm và của lạ vật ngon. Người thưởng ngoạn hoàn toàn bất ngờ trước tương lai ở phía sau với những gì “trôi” lại cho họ. Những buổi tối thú vị cứ trôi qua như vậy với các thành viên của triều đình say khướt bởi những bất ngờ về tương lai đến từ sau lưng…

Không khó khăn lắm để thấy, lịch sử tư tưởng Phương Đông, mà tiêu biểu là Trung Quốc tựa như dòng chảy ấy, nhẫn nại thách thức thời gian. Không một ẩn dụ nào về trật tự chuỗi có thể tìm được một phản đề hoàn hảo hơn tính nguyên sinh của tư tưởng Nho giáo. Lối ẩn dụ tao nhã của các tư tưởng gia Trung Hoa khi xem xét thế sự giống như một dòng sông mà nhận thức của họ là một điểm nhìn bên bờ sông ấy. Mặt hướng về phía hạ lưu dòng chảy, khiến tương lai sẽ tiến lại từ phía sau vào đúng cái thời khắc nó đi ngang qua điểm nhìn. Con người ý thức được về tương lai qua cái liếc xéo, khiến khi nó nhận ra được hiện tại thì hiện tại đã vụt qua và lui vào quá khứ. Nó cứ tuồn tuột trôi để trở thành lịch sử ngay trước mặt nhà tư tưởng. Quá khứ mới đây thì còn gần và rõ, quá khứ xa xưa thì tít tắp phía trước với những hình dạng được cảm nhận đắm đuối, nhạt nhòa bởi không hề có được sự chuẩn bị cho sự cảm thụ nó vào bất cứ thời khắc nào.

Tư tưởng Trung Quốc đã phát triển như vậy, không đều đặn. Khi văn minh Phương Tây còn đang nỗ lực cuộc hành trình tìm kiếm, thì văn hóa xán lạn Trung Hoa từ thuở nhà Hạ đã tỏa sáng mà không gặp bất kỳ một đối thủ cạnh tranh. Khi Tây Âu bước sang chế độ tư bản thì Trung Hoa vẫn còn mơ màng trong chiếc nôi đa đoan của những tam cương ngũ thường. Nhưng lúc Tây Âu hỗn mang trong thể chế tư bản thời kỳ giãy chết, thì Trung Hoa đại lục đã nhanh chóng vượt lên, thẳng tiến tới CNXH từ một nước phong kiến và không lâu, khi “gió Đông thổi bạt gió Tây” nó tuyên chiến với người “anh em” của nó là “thành trì của hữu nghị và hòa bình thế giới” không một chút nể tình, chỉ cốt giữ cho được cái “đặc sắc…” Trung Hoa !

Một lịch sử tư tưởng Trung Hoa không điển hình cho sự phát triển tuần tự.

Từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX, tư tưởng Nho gia với Khổng Tử mãi là trụ cột tinh thần của xã hội phong kiến. Không ai có thể nhìn xa hơn Khổng Tử để có thể ngăn chặn kịp thời và hiệu quả tư duy phóng tác: “thuật nhi bất tác”. “Lễ chế nhà Chu dựa vào hai triều Hạ, Ân, thật là phong phú rực rỡ biết bao! Ta theo lễ chế nhà Chu” (LN.III. 14)! “Phép tiên vương” với những “quy”; “củ”; “chuẩn”; “mực” mà Khổng Tử gương mẫu làm trước bằng việc san định thư tịch từ Chu Công đã trở thành phương pháp luận bất dịch cho mọi thế hệ Nho gia và biến họ thành những kẻ hủ nho tương tự như phái “bảo hoàng” triều Nguyễn ta thế kỷ XIX. Việc phát triển tư tưởng Nho gia chỉ là một thứ chú giải lòng thòng thiên về hình thức với những điển lễ. Suốt lịch sử, thảng hoặc xuất hiện một vài nhà tư tưởng có nguồn gốc từ Nho gia, nhưng muốn đánh giá lại Nho gia, đành phải chọn cách tách ra khỏi nguồn gốc xuất thân, nhưng rồi lập tức cơn bão quét Nho gia cùng với nền chuyên chính vương quyền của đại giáo chủ đất đai đánh cho tan tác. Cuối đời nhà Thanh một xu hướng khảo chứng Nho học được định hình trên đất nước Trung Hoa chịu ảnh hưởng của phương pháp Tây Phương, nhưng không chịu đựng nổi với truyền thống nặng nề suốt 4000 năm đè nặng lên sự nghiệp một cá nhân chỉ với vài chục năm, nên, ngoài các nhà tư tưởng theo lập trường chủ quan như Lương Khải Siêu, Hồ Thích còn thì ngọn cờ tư tưởng phải chuyển về tay các nhà nghiên cứu bên ngoài lãnh địa Trung Hoa.

Khảo cứu lịch sử tư tưởng Trung Hoa theo lập trường macxit với Lã Chấn Vũ, Quách Mạt Nhược, Đỗ Quốc Tường… được khởi phát từ xứ sở Hoa anh đào. Và khi quy mô này được mở rộng bởi nước Trung Hoa mới ra đời, thì để hợp khẩu vị với các quan tuyên giáo – ngài thưởng lãm, Nho gia phải được đẽo gọt cho hợp thời làm vừa lòng các đấng chí tôn.

Việc giới khảo cổ học vẫn còn chưa tìm thấy đồ đồng ở thời Thương – Ân và đồ sắt ở thời Tây Chu là bằng chứng về năng suất lao động thời bấy giờ vẫn còn rất thấp. Có thể lao động thặng dư còn quá kém nên người ta khi ấy, mới có thể, không hề tiếc, mà giết chết cùng lúc vài vạn người. Đến khoảng thế kỷ VIII – VII trước Công nguyên, đời sau mới có thấy xuất hiện chữ “thiết” trong một số thư tịch. Có lẽ đó là cơ sở để lý giải cho sự hùng mạnh của nước Tề hơn là bằng chứng tỏ rõ chế độ nô lệ của Trung Hoa đã không ra đời từ sau thời đại đồ sắt. Từ thời nhà Ân, toàn bộ đất đai đã thuộc sở hữu của nhà vua và mọi nô lệ đều phải nộp sản phẩm (1/10) dưới hình thức cống nạp. Khi nhà Ân tràn sang nước ta, Ông Gióng chỉ xin vua ban cho đồ sắt để chống giặc, chứng tỏ đồ sắt hãy còn rất hiếm. Sự khan hiếm ấy khiến sắt trở thành “bùa hộ mệnh” cho Ông Gióng mà kết quả đưa lại là làm tan tác bọn giặc Ân với khí cụ, có lẽ chỉ là, rặt một thứ đồng thau (!).

Quốc gia nô lệ Trung Hoa ra đời như một cuộc sinh thiếu tháng được các nhà tư tưởng Trung Quốc học macxit gọi là “tảo thục”. Nó “tảo thục” là nhờ bởi lưu vực Hoàng Hà là đất “hoàng thổ” – địa lợi; cư dân đông đúc nhưng dốt nát và thiếu tổ chức là sức lao động nô lệ – nhân hòa; còn thể chế cai trị thời bấy giờ tự biện minh là “đức độ” nên trời cho “hưởng dân” (theo ý trời) mà được “nhận dân” (quyền sở hữu sức lao động) – thiên thời. Một sự hình thành xã hội văn minh theo kiểu này khiến Mác đành gọi bằng cái tên gọi mới “phương thức sản xuất châu Á”. Thực tế, nó đã không giống như châu Âu: không có sự hình thành tầng lớp lao động trí óc do phân công lao động mà có. Sử sách còn chép, Vua Chu, thực ra là vị tộc trưởng đã “kiêm nhiệm” luôn công việc của “giới tinh hoa” soạn ra hàng ngàn điều “lễ” để thiết xã hội trong vòng lợi ích của gia tộc mình.

Không do phân công lao động nên không có “yêu mến sự thông thái”. Cơ chế kiểm soát quyền lực gia tộc Hạ, Thương – Ân,  Chu chỉ là những chiếc nêm Hê-phai-sớt. Đám học sĩ Nho gia “dài lưng” không đáng trọng mới bị chôn sống để bớt miệng ăn, vả lại, lúc đó lao động thặng dư không nhiều… Giới trí giả để có tính chính danh phải nương theo quyền lực mà nhận tước phong. Nhà tư tưởng ai được như Án Anh chỉ là để an ủi đám bình dân còn thì bị đối đãi như con hát (chữ của Tư Mã Thiên). “Con hát” khúm núm chỉ để được vua – vị trưởng lễ, dùng cho việc thi phú nịnh thánh thần. Cứng cổ, thì vua bỏ, như Hàn Phi, để được tiếng “truyền hiền” thì đã có đám quý tộc thẳng tay như loại bỏ Thương Ưởng, đuổi Ngô Khởi để rồi kẻ thì bị phanh thây, người bị giết…

Nét đặc thù của chế độ nô lệ kiểu Phương Đông là chế độ nô lệ gia tộc với một cơ cấu phân hệ: họ lớn/ họ nhỏ; nội tộc/ ngoại tộc; quốc/ dã… Sự phân hóa xã hội cộng sản nguyên thủy thành xã hội nô lệ gia trưởng không bắt nguồn từ sự phát triển sản xuất tự nội bộ công xã thị tộc: vua Bàn Canh dời đô đến đất Ân đã bắt cư dân xung quanh làm nô lệ. Tộc Ân trở thành giai cấp chủ nô, do gom nhặt được các cư dân định cư nông nghiệp làm nô bộc cho gia tộc nhà mình. Đó mới là thực chất quá trình hình thành các quốc gia nô lệ trên đất nước Trung Hoa. Người của tộc Ân đã tỏa đi lập các bang tộc ở các thị tộc khác trong vùng. Bộ tộc Chu, một thần thuộc nhà Ân, lợi dụng khi vua cuối đời nhà Ân mang quân đi mở cõi, đã “nổi loạn” cướp “đất” nhà Ân lập ra nhà Chu. Nhưng nhà Chu vì văn hóa kém, chỉ dựa vào “kỷ luật” của một bộ tộc sống du mục mà lập được nghiệp vương, nên đã không ngần ngại “áp” cách thức tổ chức nhà nước của nhà Ân và “lắp” con cháu mình vào các chức tước của nhà Ân bị buộc phải bỏ trống… Chế độ cai trị theo chủng tộc tạm kết thúc giai đoạn định dạng bởi sự nghiệp thống nhất Trung Hoa lần thứ nhất của Tần Thủy Hoàng.

Đặc trưng của chế độ nô lệ Trung Hoa là chế độ thiên tử và chư hầu. Vua –  thiên tử là nguyên tôn, vua các nước chư hầu là tiểu tôn. Có lẽ vì vậy mà “nước” gắn kết với “nhà” chính trị thành ra vua nước lớn trị vua nước nhỏ. Suy đến cùng thì tổ quốc là nước của tổ tiên gia tộc của một nhà. “Quốc gia” và “dân tộc” là sự xác nhận quyền chiếm hữu của một gia tộc, không phải là của giai cấp. Vì vậy khi nói lịch sử Phương Đông cũng là lịch sử đấu tranh giai cấp thay vì đấu tranh dân tộc e khó được sự đồng thuận rộng rãi trong giới học thuật hiện thời.

Trong mỗi triều đại thời Thương – Ân, vua và quan đều là người cùng trong một tộc. Chế độ thân tộc đã củng cố nhà nước nô lệ không làm cho nó bị xáo trộn ngôi vị đã để lại cho thiết chế xã hội Phương Đông dựa trên quyền sở hữu tuyệt đối của vua – chủ đại gia tộc “nguồn vốn” kinh nghiệm truyền thống “trong họ ngoài làng”. Khi sự sản xuất xã hội mãi chìm ngập trong một thứ năng suất lao động dựa vào cơ bắp thì việc gia cố “họ tộc” là điều kiện để được mãi “hưởng dân”. “Đức trị” thực ra chỉ là trò dùng để đoàn kết, gia cố tôn tộc trước những phản ứng yếu ớt của bọn người không chịu “an bần nhi lạc”… Nô lệ là những “dã nhân” làm việc ở nông thôn, trên thực tế không được coi là “dân” vì không phải người của gia tộc Ân, cho nên “thân dân” chỉ là thứ trang trí cho bậc quân vương trong cái quốc gia đông đúc những “thần dân” bị đần độn hóa: “bần nhi vô oán”.

Thứ đến, một điều không thể xem nhẹ sẽ dễ bỏ qua, là sự phân biệt thị tộc Thương – Ân, Chu với thị tộc không phải như chúng được ẩn dụ bằng sự phân biệt hoa/ di. Ấy là sự phân biệt những bộ tộc có quan hệ nội ngoại với Ân, Chu và những bộ tộc không có quan hệ như vậy gọi là “nhung”, “địch”, …

Ngoài cách phân hóa xã hội theo hai cách được lược ra như trên, xã hội nô lệ Trung Hoa còn phân chia theo “quốc” và “dã”. Quốc tức là đô thị, quanh quốc là dã – nhà quê. Tại “đô” thì có vua – quân gia, vị đại gia chủ này đồng thời cũng là giáo chủ, là người sai phái “nhóm” bách liêu, bách công: cai quản toàn bộ thần dân là những lao động nô lệ, làm hình thành bộ máy quan liêu biếng nhác, thường chú mục vào thú ăn chơi chờ thu hoạch để tận thu qua cống nạp. Ngoài ra, là sự định dạng dần một thứ hạng xã hội là “tiểu thần”, tựa hồ như những người dân tự do để tiện việc điều động vào những công việc phục dịch tầng lớp cai trị trong các dịp hội hè, tư tế, cũng như sinh hoạt tôn giáo hay lễ lạt, bạn bè…

Tại “dã”, kẻ cai quản lao động được gọi là “chúng” (chủ nô), hay gọi là “súc dân”. Cai quản cả vạn kẻ lam người làm, bùn đất tanh hôi, thì phải chia ruộng theo ô để tiện việc ốp lao động. Chế độ “tỉnh điền” thực ra là đường lối trông coi việc sản xuất cho tiện việc thu tô. Các hạng nô lệ trong gia đình, gọi là “thần”, “bộc”, “thiếp”, người cầm đầu đám này gọi là “tể”, các sắc này dần được đánh tráo “nội dung” để thành các chức sắc trong triều với ngai tể tướng trông coi toàn bộ công việc chính sự.

Quốc/ dã thể hiện sự phân hóa cơ sở xã hội giai tầng. Tương ứng với sự đối lập giữa thành đô và thôn dã là sự đối lập giữa quân tử sống tại các quốc đô với tiểu nhân, dã nhân sống chen chúc trong các thái ấp không phải của nó. Để yên vị trong các quốc đô ấy, kể từ sau các “thảm họa” bởi nhà Tần, kẻ sĩ phải được “định chúa”. “Vua bán quan tước, tôi bán tài năng”. Vua ra sức phong để bịt miệng bọn chuyên bới móc “lấy xưa chê nay”, mà chú mục vào “học phong tiên chú” (Đổng Trọng Thư), khiến Nho gia vùn vụt lên ngôi thành công cụ của chế độ phong hầu. Hán Cao Tổ tấn phong “thí xác” 100 phiên vương mà không nhằm ràng buộc “phiên vương” vào trung ương (vì giới này chỉ tìm lực lượng ở phú thương), và cũng không cho tới thủ lĩnh đất phong mà chỉ nhằm làm cho thế lực các phiên vương teo tóp bớt để giữ cho cái “đầu tiên của lễ là chuyện ăn uống”/ quy tắc cư xử (cách) phân chia quyền lợi, “Không được trái lễ” (Kinh Lễ).

“Chuyên chế Phương Đông” (Mác) khác với phong kiến Tây Âu – một liên minh gữa quý tộc và tư sản, nền chuyên chế dành cho đẳng cấp thứ ba. Còn Trung Hoa, thế lực hào tộc cát cứ tủn mủn ở châu quận thâm thù với bọn địa chủ không có thân phận quý tộc nhưng lại là cơ sở của nhà nước trung ương đua nhau “kiêm tính” ruộng đất, khiến vấn đề cứ nhức nhối mãi giữa lòng Trung Hoa. “Kiêm tính dễ hơn kiêm ngưng” (Tuân Tử), sau gương thất bại của nhà Tần: giữ nước là chuyện lớn của thời đại. Nếu trung tâm của xã hội Châu Âu thời cổ trung là hiệp sĩ thì Đông Phương “Đại toàn” là sĩ. “Nhất sĩ” mà không có “nhì quan” làm cho xã tắc phân chia thành cơ cấu giai tầng Quan/ Dân vì nhà nước, không phải vì địa chủ quý tộc như ở Châu Âu. Xã hội An Nam cũng như xã hội Trung Hoa cũ, quan lại là tầng lớp duy nhất có thế lực. Nhân danh vị đại địa chủ nhà nước, tầng lớp cai trị này vừa xà xẻo của vua vừa tham ô của công xã.

Mác không phải vì không sống, hoạt động ở Phương Đông mà không biết, đâu đâu cũng có hai hạng người. Song chủ nghĩa mà ông xây dựng cần “phải được bổ sung cho nó cơ sở xã hội học Phương Đông mà vào thời Mác, Mác không có” (Nguyễn Ái Quốc) để chủ nghĩa Mác mang đầy đủ ý nghĩa phổ quát.

Tác giả gửi Blog Chu Mộng Long.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.