Tự do mở miệng mình để bịt miệng kẻ khác ư?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

2(62)

Hữu Thỉnh đang Mở miệng (nguồn Internet)

Chu Mộng Long – Khoa học không có vùng cấm, dù có thể đối tượng được/ bị cho là rác, là dơ, là nghĩa địa… Điều quan trọng là cách xử lí đối tượng như thế nào.

Văn hóa là đặt những thứ ấy đúng chỗ. Khoa học là xử lí chúng, biến những thứ tưởng vô ích thành hữu ích. Còn bôi nước hoa lên đó để ngửi là văn hóa – khoa học rởm!

Nếu chủ trương cấm, như cách lí luận của ông Lưu, ông Lê, ông Chinh, ông Thỉnh… thì phải xem lại tư cách lí luận phê bình của các ông này. Ở đất nước mà cái gì cũng cấm như cấm đái, cấm ịa… mới có chuyện dân ta ịa đái tràn lan.

Thay bằng kiểu lí luận học phiệt do cái này sinh ra cái kia mà truy chụp, các ông hãy đề nghị Nhà nước cấm luôn mọi thứ, ví như cấm ăn, cấm uống (vì do có ăn và uống nên mới có ịa và đái), cấm ngủ, cấm ụ (vì do có ngủ và ụ nên mới có mại dâm).

Miệng trên miệng dưới gì đến lúc nên bịt tuốt, các ông có chịu không?

Nếu chịu thế thì theo tôi, tốt nhất nên cấm tiệt luôn mọi nguồn tri thức, từ sách báo đến internet, vì tất cả những thứ ấy đã sinh ra… mầm “nổi loạn”??? Từ nay không nói đến chuyện sáng tạo hay lí luận phê bình gì tất. Như Tần Thủy Hoàng bức xúc mà đốt sách chôn Nho vậy! Không hiện đại, hậu hiện đại gì nữa, cứ về với cổ trung đại cho xong!

Ông Vũ Hạnh bịa bừa câu nói của Lênin: “Đứng ngoài văn hóa tức là đứng ngoài chính trị” mà không biết rằng chính trị nào sinh ra văn hóa ấy. Con người là sản phẩm văn hóa – xã hội khi nó đã thành người, K.Marx đã khẳng định như thế. Mỗi nền chính trị không sinh ra một mà sinh đôi ra cả hai đứa con: văn hóa chính thốngvăn hóa phi chính thống. Chính trị khôn ngoan tìm cách thỏa hiệp, dung hòa hai đứa con sinh đôi này, nếu không chúng sẽ tranh chấp, đối kháng quyết liệt, như chính lịch sử nhân loại trong trò chơi bập bênh nghiêng ngả giữa cấm kịtự do tự nó đã chứng minh.

Mà cũng lạ, các ông đòi cấm, cấm và cấm, tức không ai được quyền mở miệng, trừ các ông. Tự dưng, ông Văn Chinh, sau khi tự do tuôn ra cả mớ lí thuyết mà ông mới lõm bõm lội ven bờ (mà ven bờ thì chỉ có bùn dơ ông Chinh ạ), lại hô hoán lên rằng, “nếu chị Nhã Thuyên – Đỗ Thị Thoan coi thơ rác thơ dơ của nhóm Mở Miệng là một thực thể, một đối tượng cần nghiên cứu thì đó là việc của chị, quyền của chị. Nhưng một khi chị biến nó thành luận văn, để quảng bá nó, truyền bá cho nó, truyền bá cho nó một cách hằn học và cưỡng chế tôi rồi nhất thiết coi cái tục cái nhảm nhí của Mở Miệng là trung tâm của văn học tương lai nước nhà thì chị đã trở thành lực cản cho cái mà tôi coi là mỹ cảm và văn học lành mạnh rồi. Như thế là chị xúc phạm/ làm mất tự do quan niệm của tôi rồi”.

Tôi không nghĩ Nhã Thuyên, hay Hội đồng khoa học của luận văn đã quảng bá mà chính các ông trương tuần như ông Chinh đã ngứa tay, ngứa miệng đánh trống khua chiêng chiềng làng chiềng chạ quảng bá cho thiên hạ tụ tập xem các ông đòi gọt tóc bôi vôi bỏ rọ trôi sông cô gái mà các ông cho là chửa hoang Nhã Thuyên.

Người ta đã giới hạn vấn đề trong giới hàn lâm, đặt đối tượng nghiên cứu đúng chỗ như một hiện tượng thời sự của phê bình học thuật, các ông lại quảng bá ra đại chúng bằng một thứ không đầu không đuôi, tức tự do phóng bừa bãi không đúng chỗ, chẳng phải đã gây ô nhiễm môi trường sao?

Trong luận văn nếu có chỗ nào Nhã Thuyên đã “hằn học và cưỡng chế”, “xúc phạm” Văn Chinh, tức bịt mồm, trói tay Văn Chinh để làm trò đồi bại cho thỏa mãn sự sung sướng của riêng chị, mà Văn Chinh gọi là “làm mất tự do”, mất sướng của ông, thì đích thực đó là luận văn chuyên chế, phản động rồi, tệ hơn cả “nổi loạn” hay “chống phá” như các ông truy chụp.

Nói đến hậu hiện đại là nói đến Tôn trọng mọi sự khác biệt để đi đến một thế giới của sự tương tác bình đẳng và hòa điệu, xóa bỏ khoảng cách và xung đột giữa quyền lực và phi quyền lực, giữa chính thống và phi chính thống, giữa hàn lâm và bình dân, giữa thiêng và tục… chứ không phải lấy cái này cản trở hay chống phá cái kia. Còn nếu có thật ai, dù là chỉ lời nói, dám gây cản trở, chống phá ai để gọi là tự do dân chủ đều là ngụy tạo của sự tự do, dân chủ.

Ông Chinh nói giải thiêng vốn đã có trong truyền thống với hùm bà lằng những dẫn dụ, nào hội lễ phồn thực, carnaval…, thưa ông, tất cả những thứ ấy mới chỉ là sự ban ơn của quyền lực chính thống đối với phi chính thống, ban ơn, thực chất là đẩy hạnh phúc của con người vào trong bóng tối, vỉa hè, như M.Bakhtin đã chỉ ra trong trò chơi chính trị khôn ngoan của thời trung cổ, chứ chẳng phải là giải thiêng đúng nghĩa của sự tự do bình đẳng trong thế giới văn minh hiện đại.

Các ông có quyền nghi kị hậu hiện đại cũng được, nhưng mời các ông chịu khó đọc Nguồn gốc gia đình… của F. Engels, các ông sẽ thấy rõ Engels đã chỉ trích sự ban ơn ấy của quyền lực đàn ông trong gia đình cá thể và thể chế chuyên chế đối với phụ nữ và nông nô như thế nào? Sự ban ơn ấy là hình thức vừa trấn áp (cấm kị đàn bà và nô lệ) vừa mua chuộc (cấp cho đàn ông và kẻ có quyền lực được phép tự do dụ dỗ bằng tiền) mà Engels gọi là một hình thức hợp pháp hóa tạp hôn và mại dâm một cách thô bỉ!

Đã lỡ quảng bá rồi thì đề nghị đưa toàn bộ luận văn của Nhã Thuyên lên mạng công khai để mọi người soi xét chứ không nên chơi trò lập hội đồng kín kín hở hở thẩm định trong bóng tối. Cá nhân tôi, nói thật, không thấy tận mắt, không tin, (dù những trích dẫn các ông đều cho vào ngoặc kép), vì khoa học có tính hệ thống của nó chứ không thể cắt xén tùy tiện như băm thịt lợn. Nếu có thật Nhã Thuyên đòi tự do mở miệng mà bịt mồm kẻ khác thì ra lệnh bắt ngay!

Có nghĩa là tôi tôn trọng tự do, nhưng không bao giờ đồng tình với sự tự do tùy tiện hay chống phá, bạo động mà tước đoạt quyền tự do của kẻ khác.

Nói công bằng, các người, cả hai phía, có quyền tự do, nhưng tuyệt đối phải tôn trọng quyền tự do của kẻ khác! Hình như cuối bài viết ông Văn Chinh cũng hiểu điều đó, nhưng ông lại tỏ ra đe dọa sự tự do của kẻ khác bằng cách gắp lửa bỏ tay người để buộc tội mà không cần bằng chứng!

Rõ ràng cho đến nay, có một bằng chứng là, sau loạt đại bác của các lão Hồng vệ binh cánh hữu nhả đạn tự do, hình như chỉ có lẹt đẹt vài viên đạn bắn trả âm thầm từ phía cánh tả. Cả Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, các nhà khoa học trong Hội đồng đang im hơi lặng tiếng vì… xin lỗi, hình như đang run sợ. Ai tự do tước đoạt quyền tự do của ai không cần phải lu loa!

Muốn tước đoạt tự do của kẻ khác phải có đủ sức mạnh và quyền lực trong tay chứ đâu dễ như ông Chinh đã tưởng tượng ra? Hay là các ông đang bị ám thị vì dự cảm đến lúc tiếng nói trịnh trọng của thế hệ các ông chỉ còn là hơi thở chót của một thời tự do bịt miệng kẻ khác mà con cháu như Nhã Thuyên hôm nay đang cất lên tiếng cười tiễn đưa những thứ đó xuống huyệt một cách vui vẻ?

Đảng từ sau đổi mới đã “cởi trói” cho văn nghệ, đang từng bước trên lộ trình tự do, dân chủ và bình đẳng như tuyên ngôn của Marx, các ông dám chống lại sao?

Độc tài quân phiệt ở đâu còn có lí do, có thể biện bạch bằng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, chứ độc tài quân phiệt trong học thuật là tên đao phủ man rợ nhất, nó đã từng chém đầu những bộ óc thiên tài, các ông học nhiều, biết rộng chắc rõ hơn ai hết!

Riêng đối với một nền giáo dục mà từ thầy đến trò muốn nghĩ một điều gì khác/ mới cũng sợ thì nó thuộc nền giáo dục gì. Không ăn theo nói leo, không đạo văn mới là chuyện lạ!

Buôn Mê ngày mưa

———————————————-

Có lẽ đáng kể hơn cả, trong phía cánh tả nói trên kia, là bài viết sau của Vũ Thị Phương Anh:

Viết nhanh nhân vụ luận văn của ĐTT, hay “Chúa đã bỏ loài người …”

Bài viết này của tôi không liên quan trực tiếp đến các vấn đề lý luận của giáo dục học, nhưng liên quan đến những hiện tượng đang diễn ra trong ngành giáo dục, mà theo tôi là đáng được lưu ý và cần được diễn giải trên cơ sở khoa học. Tất nhiên để lý giải nó thì cần có đầy đủ dữ kiện từ những người bên trong, là điều mà hiện nay tôi chưa thể (không thể?) có. Nên entry này tôi chỉ viết nhanh những cảm nhận đầu tiên của mình  liên quan đến sự việc ấy mà thôi, hoàn toàn không có ý định đưa ra những kết luận gì cả.

Số là gần đây trên báo chí có nhắc đến vụ một luận văn thạc sỹ chuyên ngành văn học VN của một thạc sỹ trẻ tên là Đỗ Thị Thoan, được thực hiện ở ĐH Sư phạm Hà Nội năm 2010 với điểm chấm tuyệt đối là 10/10. Để thực hiện luận văn, ĐTT đã chọn phân tích thơ của nhóm Mở miệng, một nhóm thơ trẻ “ngoài luồng” mà tôi có đọc qua một vài bài thơ nhưng không quan tâm lắm. Thực sự nếu vụ này không được làm ầm lên trên báo thì tôi sẽ chẳng bao giờ biết đến luận văn này hoặc tác giả của nó.

Khi vụ việc được đưa ra lần đầu trên báo Văn nghệ TP HCM cách đây ít lâu thì tôi hoàn toàn không quan tâm và cũng không hiểu tại sao việc đã xong từ 2010 (và đã được các vị lão sư, những người thầy của thầy, đánh giá là rất tốt – thì điểm số đạt được của LV đã khẳng định như thế) – mà mãi đến 3 năm sau mới được tác giả của bài báo lôi ra phân tích với những lời kết án hết sức nặng nề như vậy. Ban đầu tôi nghĩ có lẽ vụ này cũng chỉ là việc các nhà phê bình văn học  đem ra nói cho có chuyện mà nói, vì đời sống văn hóa nghệ thuật của ta không có gì để tranh cãi thì … buồn lắm.

Nhưng không ngờ sau đó vụ này lại được đưa lên những tờ báo đại diện quan trọng cho quan điểm chính trị tư tưởng chính thống và có thể gọi là “chuyên chính” của Đảng và Nhà nước. Ví dụ  như Quân đội nhân dân (có đến mấy bài, và đây là bài gần nhất http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/6/66/66/252973/Default.aspx), Báo Thanh Tra (thử đọc bài cuối này của loạt 3 bài liên quan đến luận văn http://thanhtra.com.vn/ky-cuoi-khong-the-xam-pham-gia-tri-thieng-lieng_t221c8n57577tn.aspx), chứ không chỉ là những tờ báo, trang blog của các văn nghệ sĩ và nhà báo (lề phải) khác.

Rồi gần đây nhất, theo thông tin của báo chí nước ngoài, cụ thể là một bài viết mới đây của đài RFA, thì tôi được biết là chính vì những bài viết phê bình này mà cô thạc sỹ trẻ ĐTT đã bị cắt hợp đồng và không còn được đứng lớp (cô đang dạy theo hợp đồng ở Khoa Văn của ĐHSP nơi cô làm luận văn), còn người thầy hướng dẫn cô thì bị cách chức trưởng khoa. Quả là những hệ quả không ai ngờ được cho những người làm nghề giáo và làm khoa học.

Những thông tin này khiến tôi nhớ lại một buổi nói chuyện gần đây với một số bạn bè thuộc khối ngành nhân văn (ngôn ngữ, văn học, ngoại ngữ vv), gồm một vài giảng viên, dăm ba nghiên cứu viên làm việc trong các viện nghiên cứu, và mấy người học viên cao học. Hôm ấy, những bài báo đầu tiên về luận văn này mới được đưa ra, khiến cho mọi người trong giới ai ai cũng xôn xao bàn luận. Nhưng sự xôn xao đó không phải là về nhóm Mở miệng hoặc cuốn LV của ĐTT, mà là vì những bài viết trên báo chí chính thống đó nặng về lên án dựa trên cảm tính, ném đá hơn là một sự trao đổi, phê bình dựa trên cơ sở lập luận khoa học. Nhiều người cho rằng cách viết như thế khiến cho loạt bài hầu như rất ít giá trị khoa học, chưa bàn đến là kết luận của những bài báo này có đúng hay không.

Điều làm cho tôi nhớ nhất về buổi nói chuyện hôm ấy là sự băn khoăn của một cậu học viên cao học còn khá trẻ, đã nêu đích danh cho tôi hai câu hỏi như sau:

(1) Mục đích của khoa học phải chăng là đi tìm và lý giải các hiện tượng mới (như trường hợp của ĐTT và nhóm Mở miệng), dù cách lý giải đó có thể là chưa hoàn toàn đúng, hay là cứ quanh quẩn mãi với những hiện tượng cũ kỹ đã được nhiều người nghiên cứu và có sẵn những kết luận mà ai cũng biết, để được an toàn và làm vừa lòng những quan điểm thủ cựu; và

(2) Một luận văn thạc sỹ là một công trình khoa học và tác giả của nó là một nhà khoa học, vậy điều quan trọng trong việc thực hiện một công trình phải chăng là có một cơ sở lý thuyết và phương pháp thực hiện phù hợp, hay là gạt qua hết những vấn đề lý luận và phương pháp mà chỉ xem xét những kết luận và lên án nó nếu nó không làm mình vừa lòng? 

Tôi đã lặng im không trả lời, vì tôi biết tất nhiên cậu học viên nọ không cần đến nó. Hai câu hỏi của cậu thực ra là hai câu hỏi tu từ, hỏi tức là đã trả lời. Nhưng cũng chính vì hai câu hỏi ấy mà hôm nay tôi phải tìm đọc lại các tài liệu về lý luận phê bình văn học để có cơ sở xem Đỗ Thị Thoan có thực sự đáng bị phê phán nặng nề như trên báo chí hay không.

Và để cho bài bản, tôi đã đọc lại một tài liệu nhập môn rất căn bản về Lý luận phê bình văn học, cuốn Introduction to Literature, Criticism and Theory (3rd edition, Pearson 2004). Nhân tiện, các bạn có thể vào đây mà lấy về đọc hoặc lưu, vì đây thực sự là một tài liệu quý mà không hiểu ai đó đã đưa lên mạng để mọi người có thể sử dụng miễn phí: http://site.iugaza.edu.ps/ahabeeb/files/2012/02/An_Introduction_to_Literature__Criticism_and_Theory.pdf.)

Toàn bộ cuốn sách đều đáng đọc, tuy nhiên, do vụ ĐTT nên tôi chỉ đọc lại chương về Hậu hiện đại Postmodernism (chương 29), vì qua những gì tôi đọc được trên báo chí thì tôi tin rằng ĐTT đã dựa trên quan điểm hậu hiện đại để phân tích và đưa ra những kết luận trong luận văn của mình về nhóm Mở miệng. Và càng đọc, tôi càng có cơ sở để tin rằng nếu xét theo hai tiêu chí về chất lượng của một nghiên cứu khoa học như đã được cậu học viên cao học của tôi nêu ra ở trên, thì kết quả 10/10 cho Đỗ Thị Thoan có lẽ là xứng đáng, vì:

– LV đã chọn một đề tài mới mẻ (tiêu chí 1),
– LV đã chọn một khung lý thuyết phù hợp để thực hiện phân tích, ở đây là lý thuyết hậu hiện đại (tiêu chí 2). Tất nhiên, vì chưa đọc LV nên tôi không thể bàn thêm được là những phân tích của ĐTT có thực sự logic theo chính khung lý thuyết mà tác giả đã chọn hay không.

Như vậy, theo tôi thì vấn đề cần bàn về LV của ĐTT nên xét theo những tiêu chí khoa học rõ ràng, và kết luận trên cơ sở những tiêu chí đó. Còn việc sử dụng kết quả nghiên cứu trong LV đó, ví dụ cho cho phép phổ biến rộng rãi nội dung của LV hay không, có nên đem áp dụng những quan điểm của tác giả trong việc quản lý văn hóa, nghệ thuật hay chưa thì đó lại là vấn đề khác, vấn đề của các nhà quản lý và các nhà chính trị, không phải là chuyện khoa học.

Tôi nghĩ, hiện nay chúng ta đã mở cửa và hội nhập sâu rộng về nhiều mặt với thế giới, và các nhà khoa học của ta cần phải tiếp cận cũng như có khả năng sử dụng các lý thuyết mới trong các ngành khoa học, trong đó có ngành lý luận văn học. Vì không có lý gì mà chúng ta lại buộc các nhà khoa học chỉ được áp dụng duy nhất một quan điểm, ví dụ quan điểm Mác-xít, để phân tích mọi hiện tượng, khi thế giới đã phát triển nhiều lý thuyết mới để lý giải các hiện tượng đa dạng và phức tạp trong xã hội.

Nếu vì lý do gì đó mà phải buộc mọi người chỉ được theo một quan điểm duy nhất thì có lẽ chúng ta phải xem xét lại rất nhiều chính sách khác nữa: có nên cho phép mọi người đi du học không, có nên thu hút các nhà khoa học trên thế giới đến làm việc với chúng ta hay không, có nên kiểm duyệt mọi thứ sách báo gửi vào VN hay không, có nên cho mọi người tiếp cận Internet và đài phát thanh, truyền hình nước ngoài hay không, và có lẽ, quả thật thế, có nên mở trường đại học để mọi người đi học hay không, hay nên đóng cửa hết các trường đại học và mở ra các công trường, nông trường để mọi người vào đó lao động, như TQ thời cách mạng văn hóa, hoặc Bắc Triều Tiên hiện nay.

Cuối cùng, để mọi người cùng có chung một số thông tin về lý luận hậu hiện đại, xin trích dịch (dịch ý, không dịch từng từ) và tóm tắt ở đây một số điểm quan trọng trong chương sách mà tôi đã đề cập ở trên (hậu hiện đại):

[T]he postmodern appears to welcome and embrace a thinking of itself in terms of multiplicity. It resists the totalizing gesture of a metalanguage, the attempt to describe it as a set of coherent explanatory theories. Rather than trying to explain it in terms of a fixed philosophical position or as a kind of knowledge, we shall instead present a ‘postmodern vocabulary’ in order to suggest its mobile, fragmented and paradoxical nature. (p. 261)

Đặc điểm cốt lõi của trường phái hậu hiện đại là tính “đa diện”; nó không chấp nhận một hệ thống siêu ngôn ngữ để mô tả nó theo bất kỳ một hệ thống lý luận cụ thể nào. Những thuật ngữ được dùng để mô tả nó cho thấy nó là một hệ thống động (mobile), rời rạc (fragmented), và đầy nghịch lý (paradoxical). 

Little and grand narratives
One of the best-known distinctions in the postmodern is that made by Jean- François Lyotard concerning what he calls ‘grand’ narratives and ‘little’ narratives. ‘Grand narratives’ such as Christianity, Marxism, the Enlightenment attempt to provide a framework for everything. Such narratives follow a ‘teleological’ movement towards a time of equality and justice: after the last judgement, the revolution, or the scientific conquest of nature, injustice, unreason and evil will end. 

Lyotard argues that the contemporary ‘worldview’, by contrast, is characterized by ‘little narratives’. Contemporary Western discourse is characteristically unstable, fragmented, dispersed – not a world-view at all. ‘Little narratives’ present local explanations of individual events or phenomena but do not claim to explain everything. Little narratives are fragmentary, non-totalizing and non-teleological. Lyotard claims that, in the West, grand narratives have all but lost their efficacy, that their legitimacy and their powers of legitimation have been dispersed. Legitimation is now plural, local and contingent. No supreme authority – Marx, Hegel or God – can sit in judgement.

Theo Jean-Francois Lyotard, trường phái hậu hiện đại phân biệt rạch ròi giữa “những kế hoạch lớn” và “những câu chuyện vặt”. Những kế hoạch lớn như của Đạo Thiên Chúa, hay của Chủ nghĩa Mác, hoặc của Thời Khai sáng nhắm đến việc đưa ra một khung giải thích cho toàn bộ thế giới. “Những kế hoạch lớn” như vậy tin rằng thế giới này vận động theo một hướng sao cho cuối cùng chúng ta sẽ đạt được sự bình đẳng và công lý: sau cuộc phán xét cuối cùng, hay sau một cuộc cách mạng, hoặc sau sự thành công của khoa học trong việc khám phá thiên nhiên, thì những bất công, sự phi lý và các ác sẽ phải chấm dứt. 

Lyotard lập luận rằng quan điểm đương đại về thế giới thì ngược lại với quan điểm trên, và đặc điểm của nó là “những câu chuyện vặt”. Câu chuyện của thế giới phương tây hiện đại ngày nay thì bất ổn, rời rạc, đứt khúc – hoàn toàn không có một thế giới quan nào cả. “Những câu chuyện vặt” thì vụn vặt, không thể khái quát hóa và không có mục đích. Lyotard khẳng định rằng ở phương Tây giờ đây “những kế hoạch lớn” không còn hiệu nghiệm, và sức mạnh cũng như tính chính danh/hợp pháp của nó hầu như đã mất. Tính hợp pháp/chính danh hiện nay có đặc điểm là đa dạng, đậm màu sắc địa phương hóa, và chỉ có giá trị tạm thời. Không còn Đấng tối cao nào – Marx, hay Hegel, hay Thượng đế – có thể ngồi trên tòa cao mà phán xử được nữa.

Vâng, “không còn Đấng tối cao”. Từ trước năm 1975 nhạc sĩ TCS (hình như thế) cũng đã thốt lên: Chúa đã bỏ loài người …. Chẳng lẽ nền lý luận của chúng ta, những người Mác-xít và vô thần, những người tin vào biện chứng pháp, lại muốn biến Marx hay ai đó thành đấng tối cao mới để ngồi trên tòa cao phán xử hay sao?

Vũ Thị Phương Anh

Nguồn: http://ncgdvn.blogspot.com/2013/07/viet-nhanh-nhan-vu-luan-van-cua-tt-hay.html

(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả)

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.