Ẩn dụ “hang động”/ Trong “quầy rượu…” / Triết lý “vô ngôn” (Phần IV)

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Quyền lực và sự sợ hãi - Tranh Chửng Nhi

Quyền lực và sự sợ hãi – Tranh Chửng Nhi

Chu Mộng Long – Tự nhiên là tự do. Nhưng con người với đặc thù của tư duy lại tìm đến trật tự để tạo nên lịch sử. Trật tự và sự cao cả luôn là mục đích của triết mĩ học chính thống duy trì từ thời cổ đại Hy Lạp cho đến nay để chống lại sự tự do hoang dã. Và thế là lịch sử và tự nhiên luôn vận động theo nghịch lí biện chứng, mặc dù lịch sử hay biện giải trên nền tự nhiên.

Biện giải cuối cùng cho tội ác của loài người là quy cho tự nhiên, mặc dù tội ác tự nhiên là hồn nhiên.

Là do tự nhiên luôn lừa dối chúng ta cho đến trước khi A.Einstein công bố Tương đối luận. Bằng thị kiến, dù là thị kiến qua kính hiển vi, chúng ta nhầm tưởng tự nhiên hoạt động theo luật định, và thế là chúng ta tự hào, tự mãn cái trật tự và sự cao cả do chúng ta dựng lên để chính chúng ta tự nguyện làm nô lệ cho sản phẩm do chúng ta tạo ra.

Sự thực, lịch sử đã thường xuyên trái lẽ tự nhiên bằng các thiết chế hà khắc của nó và bị tự nhiên chống lại trên con đường đi đến trật tự và sự cao cả mà con người tín ngưỡng. Sự vận động tuyến tính của lịch sử làm cho người ta nhầm tưởng nó là một cấu trúc chặt chẽ, hợp lý, nhưng người ta quên rằng, trên chiều khác, phi tuyến tính, dưới sự tác động của tự nhiên và áp lực của các hệ thống khác, những hệ thống tưởng chừng bền vững, khép kín của một thể chế được “bảo mật” bằng mọi cách, từ che lấp đến đàn áp một cách thô bạo trong lịch sử, càng nhanh chóng bị tan rã và các hủy thể của chúng hình thành nên các hệ thống mới.

Mọi trung tâm quyền lực chưa bao giờ là nhất thành bất biến.

Rốt cuộc con đường đang đi của nhân loại là cái gì vậy? Là muốn vượt lên trên Thượng đế để tìm đến thứ quyền lực cao hơn tự nhiên mà thống trị tự nhiên. Cuồng vọng này là bản chất của loài người trên hành trình tự sát mà hắn gọi bằng cái tên Tương lai hay Thiên đường. Còn nếu không mang cuồng vọng này, chẳng nhẽ hắn chỉ là một loài động vật bậc thấp? Cho nên khôn ngoan và bản lĩnh thì hắn phải đi trên sợi dây tự điều chỉnh giữa một bên là tự do và bên kia là tất định, dù biết đó là lối đi cao ngạo nhưng rất chênh vênh, an toàn nhưng đầy bất trắc. Và trên sợi dây ấy – như cái bẫy dành cho quyền lực – chỉ cần một chút sợ hãi thì lệch bên nào hắn cũng có thể rơi xuống vực thẳm của tử thần.

Chính trị nhất thời không là nội dung bàn luận trên Blog này. Nếu có liên quan xin hãy gạt ra một phía cho cái nhìn triết mĩ học tỉnh táo, khách quan để đi đến tri thức đích thực.

Giải cấu trúc quyền lực đang là một khoa học cần nghiên cứu đầy đủ và áp dụng cho kỉ nguyên trí tuệ thay cho bạo lực.

Quyền lực hiện đại rất cần loại tri thức này nếu không muốn bị quy vào cổ hủ khi nhân loại cất lên tiếng cười tiếp sức cho sự tự sát của nó.

Trân trọng giới thiệu tiếp công trình của Nguyễn Thanh Hải.

—————————————–

 Ẩn dụ “hang động”/ Trong “quầy rượu…” / Triết lý “vô ngôn”

(Phần IV)

                                                                          Nguyễn Thanh Hải

 

 Sự vận động của một hệ thống tự sản sinh tính quy định nó phải luôn đổi mới. Cái gọi là sự phát triển lịch sử, nói chung, dựa trên tình trạng là hình thái cuối cùng coi các hình thái đã qua là những giai đoạn để đi tới bản thân nó. Điều lý thú trong phát hiện của nhà sinh thái học R. May (1976), một sự thay thế xác định nghiêm túc thế nào thì rồi cũng vẫn dẫn tới kết quả không xác định. Ý nghĩa triết lý của phát hiện này là tính tùy ý và tính xác định không thể cứ tồn tại mãi trong trạng thái cũ, trong các định kiến của những bộ óc đơn giản cố gắng vùng vẫy để cưỡng lại tính tương đồng giữa tính xác định và tính tùy ý trong phương thức hỗn độn. Hỗn độn là phương thức điều hòa ý chí tự do với tính tất định. Quan niệm truyền thống, một hệ thống sẽ chỉ khi chịu tác dụng tùy ý từ bên ngoài thì mới sản sinh ra ảnh hưởng tùy ý tới hành vi. Nói khác đi hệ thống sẽ là thụ động đáp trả với những hành vi tương ứng từ môi trường. Niels Bohr đã không chịu đựng được quan niệm như vậy. Trước Bohr, Josepph Loschmidt trong cạnh tranh với Kukule đã thiết đồ nên cấu trúc ba chiều của phân tử và phát biểu: một nguyên tử có thể có nhiều hóa trị. Ông đã suy ra được số phân tử trong một centimet khối bằng công cụ do ông tạo ra, số Avogadro, và xây dựng nghịch lý mang tên ông. Khi Bolzmann suy từ các định luật cơ học ra nguyên lý thứ hai của nhiệt động lực học, thì Loschmidt khẳng định (1865) rằng, nếu đảo chiều vận tốc của các phân tử, tại một thời điểm, thì chính những định luật cơ học ấy sẽ đưa trở lại trạng thái ban đầu có entropi nhỏ hơn, trong khi nguyên lý nhiệt động học này thì entropi chỉ có thể là phải tăng lên.

Bản thân tự nhiên đã không thể chịu đựng nổi một hạt thóc khi tuân theo qui luật động lực sẽ lại cũng chỉ đưa lại một, hoặc một số lượng như thế nào đấy những hạt thóc; một cái trứng tằm tất nhiên là nở ra một con tằm…, nhưng không hoàn toàn sẽ chỉ đưa lại một cái trứng mới. Không chịu tác dụng tùy ý ở bên ngoài, không có hệ số tùy ý, điều kiện ban đầu là hoàn toàn xác định, thế nhưng do cơ chế phi tuyến tính bên trong đã tự nhiên sản sinh ra tính tùy ý. Tính tùy ý tự phát là đặc trưng cố hữu bên trong của mọi thực thể được quan niệm có tính hệ thống. Tính xác định là có tính tùy ý. Quy luật động lực và quy luật thống kê thống nhất với nhau. Henri Poincaré, trong “Khoa học và phương pháp” (1903) có đoạn: “điều kiện ban đầu có thể chỉ sai khác một chút ít, nhưng cuối cùng trong hiện tượng sẽ có thể phát sinh sự khác biệt rất lớn. Sai số nhỏ của điều kiện ban đầu, gây nên sai lệch lớn cho kết quả vì vậy làm cho không thể đoán trước được”. Cho nên, sự phát triển là gì nếu không phải là quá trình tự thân nỗ lực khắc phục những sai biệt bên trong mà chúng ta gọi là năng lực tự điều chỉnh để phát triển. Một sự tồn tại nào bao giờ cũng hợp lý, tính hợp lý của nó nằm ở quá trình biến đổi tất nhiên của nó khiến nó dần trở nên không hiện thực, nghĩa là mất tính tất yếu, mất quyền tồn tại. Lợi dụng cơ chế này GS,TSKH Phan Phải đã thành công qua luận án “Tính đặc hiệu của hoạt động đột biến sau giai đoạn phôi hình thành hợp tử ở thực vật và đột biến di truyền tự nhiên với biến đổi của cấu trúc hoa” với các “biến dị” mà bằng con đường tự nhiên học cũng có được nhưng phải trải qua hàng vạn, có khi là hàng triệu năm với các nửa của nửa… đoạn đường. “Người hiện đại dùng nguyên nhân và kết quả giống như người cổ đại dùng các vị thần để thiết lập trật tự cho vũ trụ. Điều này không phải vì nó là hệ thống chân thực nhất, mà chỉ bởi vì nó là hệ thống tiện nhất” (Henri Poincaré). Như thế, khi ta đoán định cái này hay cái khác là lúc chúng ta biểu đạt tình cảm đối với cái ta cần, và nó khác với sự biểu đạt một sự thực đáng tin cậy.

Thì ra, phép quy nạp giờ này lại dẫn ta đến phép nghịch suy, dù là hình thức. Cái mà con người khi tự cho mình quyền kiểm soát lại chính là lúc mình không thể kiểm soát được. Chúng ta cho rằng mình biết (nhưng) kỳ thực ra là (lúc mình) không biết. Chúng ta cứ đinh ninh rằng những lý thuyết của quá khứ vẫn còn năng lực lý giải (là khi) trên thực tế chúng đã hết veo! Tri thức phải là cái gì đó nhiều hơn chứ không chỉ là có những niềm tin mà là những niềm tin đúng một cách tình cờ. Còn tệ hơn nữa, đôi lúc chúng ta nhớ lại những sai lầm, nhưng lại cứ ngộ nhận chúng là chân lý. “Tận tín cơ thư, bất như vô thư” (Mạnh tử). Tuy Đông Phương rất trọng đức tin như là điều kiện…, nhưng chỉ là cần thiết để tiến sâu vào đạo học, nhằm hoàn thiện nhân tính.

Trong Triết học nhập môn (1932), Karl Jaspers (1883-1969) coi hoài nghi là một trong những nguồn để đạt tới tính xác thực. Với ông, mọi tư tưởng về bản chất đều dựa vào sự tin tưởng nên nhiệm vụ của con người là giải phóng tư tưởng triết lý khỏi tất cả những gắn bó với các đối tượng nhất thời của thế giới này. Ông kêu gọi một nỗ lực phi quốc xã hóa đội ngũ giảng dạy đại học, tuy nhiên số giáo sư thỏa hiệp với chính phủ phát xít quá đông đảo (1946 – Ý tưởng Đại học). Jaspers cảm thấy rằng: một sự thừa nhận tội lỗi của toàn dân tộc là điều kiện cần thiết cho sự phục sinh đạo đức và chính trị ở nước Đức. Trả lời “Câu hỏi về tội lỗi của nước Đức” (1946), ông khảng khái: bất kỳ ai tham gia tích cực vào việc chuẩn bị hay thực hiện những tội ác chống lại loài người đều có tội về mặt đạo đức, còn ai thụ động chịu đựng những biến cố này vì không muốn trở thành nạn nhân của chủ nghĩa quốc xã thì chỉ chịu trách nhiệm về mặt chính trị. Ông hy vọng vào việc không ai có thể thoát khỏi tội lỗi và trách nhiệm tập thể này sẽ giúp cho nước Đức của ông từ đống hoang tàn đổ nát trở thành quốc gia có nền dân chủ phát triển cao và đầy trách nhiệm đạo đức.

Tâm trạng không dễ gì tin được bó buộc con người phải vật lộn với thực tại. Tưởng tượng và thực tại dù là tương đối về ranh giới thì cũng vẫn chỉ là sự phù hợp, nghĩa là có khác biệt. Cho nên, tổng hợp trí tuệ con người mới chính là kho tàng của thực tại (Plato). Lịch sử của nghệ thuật cũng như của vật lý là gì, nếu không phải là lịch sử của các điểm nhìn chồng lấn lên nhau! Điều này dẫn Karl Jaspers đến đề xuất ý niệm mật mã để thay thế sự khách thể hóa trước đây của những hệ thống siêu hình học và tôn giáo. Ý niệm mật mã cho phép mọi hệ thống tư tưởng dị biệt chia sẻ một điểm thỏa thuận chung, đưa lại một sự khoan dung lớn lao. Trong “Những đại triết gia” (1957), Karl Jaspers đã đặt mục tiêu tìm hiểu tất cả tư tưởng quá khứ để có thể đạt được sự thông đạt tới mức độ nào.

Một pháp sư thời Trung cổ, Meister Eskhardt nói: “Ta đã từng được hỏi: “Khi nào con người chỉ thuần túy hiểu?”. “Khi anh ta chỉ nhìn thấy một thứ, tách ra khỏi thứ khác!”. Và khi nào thì con người vượt lên trên sự chỉ có hiểu? Điều này thì ta trả lời anh ngay: “Khi một con người nhìn thấy Tất cả trong Tất cả, khi ấy nó đứng trên sự hiểu biết thuần túy”.

Cả Thế giới ở trong Hạt cát

Và Thiên đường trong một Đóa hoa

Cái Vô hạn trong lòng bàn tay bạn

Vĩnh cửu Thời gan – chỉ đúng một giờ. 

                               (Những điềm báo trước ngây thơ, Blake)

Quả quyết trên kia của khoa học và của Henri Poincaré liệu có thuyết phục được các nhà tướng số, các phù thủy! Nhưng đã hoàn toàn làm bẽ bàng các nhà giả kim thuật là những nhà thừa kế truyền thống cổ đại Ai Cập và Hy Lạp, vốn là nguồn gốc của bao nhiêu tiến bộ đối với khoa học nhưng lại khinh thường bản năng của những trí tuệ lớn đương thời đối với việc kiểm tra những tư biện bằng phương pháp thực nghiệm: trộn lẫn dị đoan, triết học và ma thuật. Trong giai đoạn suy thoái của thuật giả kim, các yếu tố mê tín dị đoan đã phải dần “nhân nhượng” với khoa học hóa học và dành quyền phát ngôn chính thức cho người Flamand Jan Baptist Van Helmont nghiên cứu ra các chất khí và nghĩ ra thuật ngữ “gaz”, mượn từ tiếng Latin, có nghĩa là “sự hỗn độn” để chỉ về chúng. Khoa học khác với đoán mò. Chẳng hạn những ngày này đất nước Trung Quốc vĩ đại đang diễn ra cuộc bầu cử vào các cương vị chủ chốt nhất của nhà nước của đất nước ấy, kết quả cho đến khi tác giả đang viết đoạn này vẫn chưa có, nhưng tác giả xin quả quyết những gì diễn ra sẽ hoàn toàn không khác với những gì mà dư luận thế giới đã “biết trước” về cơ bản với hy vọng chính đáng: thế giới sẽ dễ chịu hơn và trẻ em sẽ có thực quyền hơn khi các bên sẽ đồng thuận để lo cho một tương lai ít rủi ro. Điều này là một chứng tỏ khẩu hiệu “Sáng suốt lựa chọn những đại biểu có đủ đức tài bầu vào Hội đồng nhân dân các cấp” mà có được ông nghị HHP thì đơn giản chỉ là các cử tri mong muốn như vậy. Một người đàn ông không may mắn mắc phải bệnh hủi, nỗ lực duy nhất còn lại của anh kể từ khi lâm bệnh là bật cho được que diêm để nhìn xem đứa con do vợ mình mới sinh ra có giống mình. Làm việc này người đàn ông nọ đã tin tưởng rằng có hiện tượng sai biệt mà khoa học gọi là tùy ý, bởi vì có tự nhiên là có tính xác định. Người đàn ông bất hạnh kia sẽ đau đớn hay hạnh phúc khi đứa con dứt ruột đẻ ra kia giống hay không giống ông ta nhỉ (?!).

Sự tách bạch lý thuyết tất định và lý thuyết tùy ý là cơ sở của sự xác lập địa vị chúa tể của Newton và đe dọa ngôi vua của Leonardo trong nghệ thuật. Mặc dầu các ông không mảy may quan tâm đến điều này, nhưng đã làm cho Kant thật sự day dứt: Thực ra chúng ta chẳng biết cái gì cả, “cái mà chúng ta biết chỉ là những hiện tượng”. Tâm sự này của Kant thực ra là một lời than phiền trước sự háo thắng của đồng loại hay là một tâm trạng u uất của một “ẩn sĩ”. Về nguyên tắc chúng ta cũng không biết, và nhân loại cũng đã trả giá “sòng phẳng” cho sự ngộ nhận. “Mê ngộ” là chữ của nhà Phật dùng để chỉ về con người. Nhưng nếu con người lầm lạc thì tốt hơn là hãy giáo dục họ bằng những đầu óc tinh hoa với những cử chỉ nêu gương (vì ngôn ngữ chỉ là tạm bợ, hơn nữa công chúng luôn cọ sát với sự vật cảm tính) chứ không phải là quy cho họ có bệnh dại. Nhưng có dại thì họ mới thường bỏ phiếu cho những tên ngu ngốc tham nhũng, và đôi khi, thậm chí còn bầu cho những nhà cai trị nguy hiểm. Thì ai đã bầu cho Hitler, nếu không phải là dân chúng Đức. Lão tử cho rằng, thiên hạ nhiều khí giới thì loạn, lắm kị húy thì nghèo, pháp luật tăng thì xảo trá lắm. Cứ thế này mà suy ngược ra, quá nhiều tự do, coi chừng, sẽ dẫn đến thoái hóa thành vô luật pháp! Khi đó, sẽ thường trực một gã độc tài tiềm năng ẩn dật chờ thời phục hồi luật pháp và trật tự, mà sự kiện xảy ra ở Tiên Lãng đầu năm 2012 có thể coi như là một ẩn dụ.

Tác phẩm Cộng Hòa đầy mơ mộng của Plato đã trình bày Nhà nước hoàn hảo, trong đó ông coi chính phủ quân phiệt duy trì quyền lực bằng cách đàn áp đa số; chế độ tài phiệt là xã hội của thiểu số những kẻ tiêu thụ giàu có đối xử với mọi người còn lại ngoài nó, chỉ như là với một nguồn tài nguyên kinh tế; nhà nước dân chủ thì cũng  “rách việc” vì đám đông quần chúng không đủ thông minh (mà chúng ta bóng bẩy: dân trí thấp) và thiếu kiên định để tự lãnh đạo mình (?!). Nhà nước lý tưởng Plato là thứ nhà nước được phục vụ bởi một đạo quân đông đảo gồm những nông dân và thợ thuyền. Các công dân này được cai trị bằng bộ luật thực thi bởi 37 vệ binh và một tá các nhà thanh tra nhằm bảo đảm không có tham nhũng. Mọi công dân đều được nhà nước giáo dục bằng sự nêu gương của nhà cai trị, để trở thành những công dân hiểu biết về chính trị, chứ không phải lệ thuộc vào nó và phục tùng quyền lực tuyệt đối như một thói quen. Trong cái thể chế “cộng hòa thứ hai” – thành quốc Magnesia này, mọi công dân phải được định đoạt tư cách để có ý kiến về cách thức nhà nước cai trị họ. Họ hiểu rõ luật đó là gì và, điều này mới thực sự quan trọng: mục đích đằng sau mỗi điều luật! Chính trị của công dân được mô tả trong Luật pháp không phải là phục tùng, mà là lên tiếng về cách thức tiến hành mọi việc, và quyền tự do của công dân được bảo đảm bằng sự cai trị của luật pháp chứ không phải bằng chỉ đạo miệng hay những công văn rối tinh rối mù.

Khi đề cập đến một sự đồng thuận của nhân dân, Kant tỏ ra rất dè dặt. Với ông, nhân dân chỉ là một khái niệm tương đối. Về mặt logic hình thức, khái niệm này chỉ xuất hiện trong mối quan hệ với khái niệm đối lập với nó. Chính quyền bao giờ cũng là một khái niệm về một tổ chức bất toàn (*), khiến mức độ tham gia của dân chúng vào sinh hoạt chính trị bao giờ cũng chừng mực. Vì lẽ đó mà Kant không cổ súy cho công bình và đạo đức khi toàn dân được kêu gọi thể hiện một ý chí chung sống trong Hiến pháp. Người dân không thể không theo đuổi tư lợi mà việc này chỉ có thể thực hiện được khi họ thể hiện được ý chí chung sống. Vậy công bình chỉ là một thứ thủ tục. Một đạo luật được coi là bình đẳng khi mỗi người có liên quan đều sòng phẳng tham gia quyết định để được bình quyền tôn trọng và được tôn trọng các khế ước sau khi đạt được sự nỗ lực thỏa thuận.

Hoàn toàn không có thói quen coi một cái gì đó là hoàn hảo nhưng Kant vẫn “rào cây táo” Fridric Wilhem, vì ông coi mức độ tham gia một cách chừng mực của dân chúng vào sinh hoạt chính trị mới là cội rễ của vấn đề. Nếu công chúng thực hiện một bổn phận đạo đức với nhà nước Vương quốc Phổ, thể hiện một ý chí chung sống trong Hiến pháp, thì sao để có thể giải thích được thái độ chính trị của K. Marx và F. Engels. Còn như, thái độ chung sống trong Hiến pháp Vương triều Phổ là do cái thiết chế đó cố gắng dàn dựng nên thì đó là lời biện hộ cho sự hèn hạ của chúng dân không biết thế nào là vong thân.

————————

(*) imperfect organization (Chú thích của Chu Mộng Long)

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.