Ẩn dụ “hang động”/Trong “Quầy rượu…”/Triết lý “vô ngôn”

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Picasso

Tranh Picasso

Chu Mộng Long – Cặp phạm trù ThựcẢo, Hữu luôn là vấn đề phức tạp nhất của triết – mỹ học, bởi từ lâu hai con mắt của loài người chỉ biết nhìn về một phía định hướng cho một lối tư duy. Người Hy Lạp từng tạc tượng Plato chỉ tay lên trời, Aristotle chỉ tay xuống đất biểu thị 2 cái nhìn đối lập trên hành trình đi tìm sự thật của cái đẹp. Từ đó các diễn ngôn về cái đẹp bị rẽ ra thành các hướng khác biệt trong các cuộc tranh chấp hơn thua của trò chơi trí tuệ.

Trong cuộc tranh chấp ấy, người ta quên mất rằng, cặp Plato – Aristotle chỉ là 2 nửa của sự thật. Một thế giới lí tưởng phải là một thế giới hòa điệu của những khác biệt, điều mà Heraclite đã từng tiên tri bằng phép biện chứng về vẻ đẹp tự nhiên và vẻ đẹp tinh thần: cái kì diệu của tạo hóa là sự kết hợp hài hòa của những khác biệt và tài năng của nghệ sĩ là kết hợp khéo léo những khác biệt lại với nhau thành một chỉnh thể hài hòa.

Một bản nhạc hay phải là sự tương tác, điều chỉnh lẫn nhau giữa những âm khác biệt để tạo nên tiếng vang âm nhạc. Vai trò điều chỉnh ấy, theo âm nhạc học, chính là chủ âm (tonic), nhân tố hòa giải những xung đột theo chiều hướng phát triển. Sự xuất hiện những “âm bất trị”, đối kháng, trước hết là do nhân tố chủ âm mất hết quyền uy, tiền hậu bất nhất trong quá trình điều hành của nó.

Nghệ thuật quá khứ đã làm được điều này, nhưng cách phối âm, phối màu của nó vẫn cứ đơn nhất một chiều theo phương pháp hòa điệu lý tưởng, loại trừ thẳng thừng những âm bất trị ra ngoài hệ thống.

Phải đợi đến Picasso mới thực sự phá vỡ sự đơn nhất bằng cái nhìn nhiều hướng qua những tác phẩm lập thể nổi tiếng chứng minh cho sự hòa điệu của những xung đột tưởng chừng không thể hòa điệu.

Khác là lí do của tồn tại, cả vi mô lẫn vĩ mô. Không có sự tồn tại đơn nhất, hoặc ảo hoặc thực, hoặc hữu hoặc vô mà có khi ảo thành thực, hữu thành vô và ngược lại. Nhất nguyên luận chỉ là sự ngụy biện của một hệ thống giả tạo, một nửa của sự thật được chứng minh bằng thứ tri thức bổ củi dưới sức mạnh cơ bắp của quyền lực để giành thế ưu thắng trong từng giai đoạn lịch sử. Và thế là lịch sử cứ bị vận động chệch hướng, cong vênh đến mức quá ngưỡng buộc phải điều chỉnh lại sau những nhầm lẫn khổ đau.

Không phải ngẫu nhiên mà Leonard Shlain đem nối kết nghệ thuật và vật lí để tạo nên một cuộc đối thoại và tương tác không ngừng giữa hai kiểu nhận thức khác biệt, và cuối cùng, rất cần thiết, phải quy về một mối trong trò chơi trí tuệ vô tận của nhân loại (*).

Thế giới văn minh, hiện đại thực sự phải là thế giới hòa điệu của những khác biệt để cuộc sống là bản hòa âm sống động, đa dạng. Giá như chính trị gia biết tự phế bỏ võ công của cơ bắp để tìm ra phương pháp hòa điệu của những khác biệt theo cách của nghệ sĩ thì cuộc sống bớt nặng nề, căng thẳng hơn nhiều.

Đối thoại để tìm ra trong sự khác biệt có tiếng nói chung chính là phương pháp khôn ngoan của kỉ nguyên văn minh. Thi học, âm nhạc học gọi là thực hiện nguyên lí tương đương của những dị biệt.

Chụp mũ, khiêu khích, trấn áp chỉ tạo ra sự chia rẽ, đối kháng, tất yếu bạo lực nảy sinh đẩy thế giới vào tình trạng hỗn loạn. Và cái hệ thống đơn nhất đang tồn tại ấy tưởng như đang sở hữu một bộ máy khổng lồ phát ra âm thanh ầm ĩ lấn át mọi âm thanh khác, nhưng thực chất chỉ là một tập hợp giả tạo của một dàn nhạc gồm những âm thanh giống nhau, nó chỉ phát ra nhất thời và hậu quả là sự phân rã thành một mớ rời rạc và tự tan biến vào hư vô mà không để lại chút dư vang nào.

Bạo lực chỉ có thể bị trả giá bằng bạo lực. Và nhân loại đã nhiều lần phải đào huyệt chôn thứ bạo lực ấy vào trong nấm mồ của sự lãng quên đau khổ.

Hữu thành Vô, Thực thành Ảo là vì thế. Trong khi sự im lặng – vô ngôn không có nghĩa là không. Lưu thủy vô thanh vạn cổ cầm (câu thơ này hình như là của cụ Hồ đấy) – một thứ tiếng nói đang âm thầm cuộn chảy trong hàng triệu trái tim có sức mạnh hơn mọi tiếng nói ầm ĩ được hỗ trợ bằng các dàn âm thanh và mạng điện tử.

Chỉ gương đôi mắt nhìn thấy cái Hữu mà tưởng Thực thì cái Thực ấy còn Ảo hơn cả Ảo và rơi vào hoang tưởng hơn cả hoang tưởng. Người điều hành bản hợp xướng của thời đại phải thấy cái Hữu trong cái Vô này may ra mới cứu vãn được tình thế có nguy cơ hỗn loạn trước xu hướng tự do hoang dã, hỗn mang.

Chu Mộng Long giới thiệu từng phần bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Hải về triết lí vô ngôn của nghệ thuật. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả trên nền những tri thức tác giả thâu lượm được, tất nhiên không hoàn toàn đồng quan điểm với Chu Mộng Long (vì chẳng có sự hô ứng nào trong lời giới thiệu kiểu này) nhưng đáng để suy ngẫm. Do bài viết chưa chú nguồn và khá trừu tượng nên Chu Mộng Long phải hiệu đính, minh họa và chú nguồn một số chỗ theo nguồn tri thức mà mình biết.

———————————

Ẩn dụ “hang động”/Trong “Quầy rượu…”/Triết lý “vô ngôn”

(Phần 1) 

                                                                                                       Nguyễn Thanh Hải

Với Plato, thế giới sự vật cảm tính – Nhà Phật gọi “pháp hữu vi” – chỉ là những hình ảnh lý tưởng của nguyên mẫu Ý niệm in lên vật chất, còn Nhà Phật giải thích nguyên nhân do con người vô minh mà nó biểu hiện ra… Tất cả là nhiễu loạn, rất nhiễu loạn. Khắc phục tính chất nhiễu loạn này trở thành mối quan tâm đầu tiên của con người để ta có thể biết được điều gì đúng mà sống sao cho đúng với bổn phận làm người. Leonardo đề xuất chủ trương cần phải xây dựng một khoa học phê bình nghệ thuật!

Trong một ẩn dụ hang động nổi tiếng, Plato với thủ pháp ngoại suy đã ví con người ngắm nhìn thế giới như những tù nhân bị xích chặt vào một vách thấp trong một cái hang. Và cái mà con người nhìn thấy chỉ là cái bóng của chính mình cùng những hình ảnh nhập nhòa méo mó của đoàn người tự do nào đó cùng các hành động sinh sống của họ hắt lên vách hang bởi đống lửa phía sau lưng lũ người Promethe kia! Cơ quan tri giác của chúng ta không còn cách nào hơn, vì mỗi lần ta cố nhoài người ra sau là mỗi lần chiếc nêm Hephaestus lại thít ta vào những hình ảnh chập chờn ta thấy kia là thực.  Cogito, ergo sum  đã cố kéo con người ra khỏi những ám ảnh bởi chủ nghĩa giáo điều đồng thời với việc phê phán niềm tin ngây thơ vào các dữ kiện trực tiếp, thì lại vẫn còn “dùng dằng”: về phương diện luân lý, đôi khi cũng nên tuân theo những ý nghĩ mà ta biết là không chắc chắn (?!). Nhưng thôi, cũng không hẳn là tiêu cực hoàn toàn khi René Descartes lại căn dặn kỹ càng: đó là về phương diện luân lý còn như nếu là đi tìm kiếm chân lý thì phải làm ngược lại (!)

Thế giới Ý niệm của Plato tồn tại dưới 4 dạng 1) Ý niệm tối cao được nhận thức bởi tri giác trí tuệ; 2) Đối tượng của nhận thức toán học; 3) Các sự vật cảm tính – đối tượng của những kiến giải (Kant gọi là thế giới hiện tượng) và, 4) Những hình ảnh thể hiện các sự vật cảm tính do con người tạo ra từ những vật tự nhiên (chẳng hạn những chiếc bình gốm).

Cái được tạo ra mà đỉnh cao là nghệ thuật. Plato, rồi đến Aristotle, coi nghệ thuật như là sự bắt chước (mimésis): bắt chước con nhện mà con người đan được lưới, dệt được vải; bắt chước con yến mà con người làm được nhà; bắt chước sơn ca con người biết hát ca, con thiên nga và họa mi mà con người biết múa… Thần thoại Hy Lạp quy hết vào vai trò của Promethe – một biểu tượng tự do sáng tạo của con người mà Marx rất yêu thích.

Thế giới các sự vật cảm biết thường biến, luôn sinh ra và mất đi, nên không chân thực và vì thế mà con người không thể kiểm soát, trừ nghệ thuật do nó sớm có lý luận phê bình. Thế giới này chỉ là sự bắt chước, mô phỏng, với Plato là những bản sao chỉ luôn hướng tới chứ không thể đồng nhất được với mô thức (bản chính): ý niệm cái thiện phổ biến có trật tự là bản chất đích thực của thế giới trần tục tinh khiết; con số là một dạng bản chất độc lập, là trung gian giữa ý niệm và các sự vật mà thông qua các quan hệ tỷ lệ toán học, ý niệm sẽ in hình của nó lên vật chất, như ấn chiếc nhẫn lên cục sáp, tạo nên thế giới các sự vật cảm tính… Cho nên tồn tại không phải là cái gì đó duy nhất mà là tổng thể của nhiều yếu tố.

Con người ngắm nhìn thế giới mà cứ vội tưởng là đã nắm bắt được thế giới. Nó “vô minh” là chỗ này: thế giới thường biến mà lại khư khư những “mê kiến” nên mới dẫn đến “mẹ hát con khen hay” (?!). Cái mà con người tưởng là thấy thì thực ra chỉ là những chiếc bóng in lên vách hang động của “đoàn người ngựa” kéo qua cửa hang được ánh sáng dọi vào. Đáng lẽ phải tìm đến ngọn nguồn của thế giới: Ý niệm, thì người ta lại có vẻ bằng lòng với những hình bóng hời hợt, phù du.

Nếu ta nhìn vào sự vật chỉ bằng… một con mắt, thì tất cả chúng ta sẽ cảm được như nhau hai chiều vectơ của không gian. Tuy nhiên, nếu biết nhờ đến sự tiếp sức của “con mắt còn lại” (chữ của Trịnh Công Sơn) não ta sẽ được cung cấp thông tin từ một góc nhìn khác. Các thông tin từ hai góc nhìn này sẽ chồng lấn lên nhau để tạo ra ở phần vỏ não thị giác một chiều rất sâu, mà một tay vỗ không kêu được là như vậy đấy!

Trong bức tranh “Quầy rượu ở Rạp Folies-Bergère” (1882), theo diễn giải của Leonard Shlain (**), Édouard Manet đã báo hiệu cho một sự xuất hiện hiện tượng vốn bị ngộ nhận trước một phần tư thế kỷ được thuyết tương đối hẹp “sửa sai”, thậm chí trước phát minh của Niels Bohr cả gần ½ thế kỷ (!).

Edouard_Manet_004

Quầy rượu ở Rạp Folies-Bergère – Tranh Manet

Chúng ta sẽ nhìn thấy một cô phục vụ trẻ. Đẹp! Với khuôn mặt không hề biểu lộ một chút cảm xúc gì trước một tấm gương rất lớn phản chiếu lại cái thế giới đang ồn ào ở rạp Folies-Bergère. Một không gian sâu và hình như là rất sâu như một khung cửa sổ mở ra của vũ trụ đang giãn ra rất xa… Phản ánh trong đó là một đám đông, có lẽ là rất đông, đông lắm…, đông đến mức các hình ảnh cứ nhạt nhòa và càng nhạt nhòa theo khoảng cách hút xa… Bức tranh thông báo chẳng có giới hạn nào phía sau của cái rạp Folines… Một “đường chân trời” bao gồm các hình người lẫn lộn trong một không gian lờ mờ đến mơ hồ bất tận, gây nên một cảm giác choáng ngợp… Một chùm đèn, và rồi những đốm sáng nhấp nhánh cùng các khối cầu trắng sáng đủ kích cỡ dường như là bóng đèn lấp lánh vì lơ lửng như chẳng được treo móc vào đâu giống như điều con người thường thấy vào ban đêm khi ngước lên bầu trời quang đãng…

Một ảo giác tăng lên đến đột ngột tựa hồ như Manet kéo ngược tấm thảm dưới chân người quan sát với một tốc độ chóng mặt. Hình như người quan sát không đứng ở đâu, kể cả trước quầy rượu. Khoảng trống cả phía trên và dưới “bức tranh” khiến cho cái biển người được phản chiếu cũng lửng lơ như đôi chân được cắt rời từ một nữ diễn viên  nhào lộn đang đong đưa ở góc trên bên trái của bức tranh làm cho tất cả những gì trong tranh đều không trọng lượng. Phía sau cô gái phục vụ trong quầy là cả một vũ trụ mênh mông.

Một nghệ thuật phối cảnh khó mà tưởng tượng… nếu không được hỗ trợ của Plato về một nghệ thuật nhất thiết phải bao gồm thời gian chuyển động, bên cạnh không gian bất động: giữa tưởng tượng và thực tại chỉ tồn tại một sự khác biệt không đáng có, cái gì mà con người ta tưởng tượng ra một cách hợp lý, thì sớm muộn gì cũng trở nên có thể. Năm 1971, khoa học về các thiên thể khám phá ra một lỗ đen thực sự sau khi đã tưởng tượng ra nó. Hiện thực sở dĩ khác nhau vì chúng giống nhau đến nỗi Leonardo ngoại suy từ sóng nước: sóng âm cũng “như một hòn đá ném xuống nước trở thành tâm điểm của vô số vòng tròn, âm thanh cũng lan tỏa thành các vòng tròn như vậy trong không khí”.

Manet bằng việc xoay đảo điểm tụ và thách thức tính thẳng đứng của các đường vuông góc bằng việc uốn cong đường chân trời trước khi vật lý học giải thích được khái niệm “không-thời gian cong” năm mươi năm, đã làm cho người xem tranh thật sự bối rối. Rất ngạo mạn, Manet trình bày đường vuông góc thẳng đứng thành vặn vẹo và một đường chân trời cong cớn, có vẻ hơi chảnh qua tấm lưng của cô phục vụ được phản chiếu chệch về bên phải như đang nói chuyện với một người bạn hàng nào đó rất quen (!). Nếu chọn góc quan sát chệch một chút, từ bên phải, thì cô gái như cố thu hút sự “lả lơi” của ông khách, điều vẫn thường thấy trong các tửu quán: còn cô bán rượu anh còn say sưa… Trong khi đó, rõ ràng là tại cảnh chính phía trước cô gái hoàn toàn biểu hiện một tư thế đoan trang của phẩm hạnh không thể xem thường… Thế nhưng chúng ta lại hoàn toàn không thể thấy được một cách thật sự hình ảnh cô gái như một pho tượng Venus nếu như ông khách, lão bạn hàng đáng ghét kia đứng chắn trước mặt cô, khiến ta không nỡ dằn lòng mà không lỗ mãng một chút khuỷu tay hích nhẹ cùng một thông điệp với gã: hãy biến đi! “Tôi không muốn nhìn thấy ông, ông bạn !” Vậy là từ góc nhìn này ta không khó chịu bởi vị khách của cô gái kia… không có, nhưng khi thay đổi cái góc nhìn khác ghen tuông sẽ thật sự phẫn nộ khi gã “nát rượu” kia đứng chắn trước mặt cô gái thì ít còn làm mù mắt ta trước nhan sắc thì nhiều.

Đúng là ông khách nghịch ngợm và tinh quái. Cái tinh quái của giới đàn ông, mê… rượu, khiến Manet đã phải cầm cọ từ hai góc nhìn khác nhau. Mỗi quang cảnh không hề chứa thông tin ở quang cảnh còn lại kia. Hình như Manet muốn xây dựng nên khái niệm về một hiện thực được nhìn thấy từ hai điểm tách biệt trong không gian và thời gian được hình dung thành những thời điểm cách biệt. Tư tưởng nghệ thuật sâu xa như tiên lượng cho Einstein và Bohr về Huygens (1678): sự cần thiết phải kết hợp hai mặt đối lập của thực tại để tiến tới sự hiểu biết đúng đắn về nó.

———————————

(*) (**) Leonard Shlain, Nghệ thuật và vật lý, Nxb Tri thức, 2010.

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.