Văn hóa lừa lọc nhìn từ lễ hội đầu xuân

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Chua-kho-xau-1Chu Mộng Long – Tưởng đã quên cái câu thơ mà đương kim Chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh năm nay chọn bốc lên trời cho Ngày Thơ, nay lão Thanh Hải gửi bài lại đưa vào làm minh chứng thêm cho cái hủ bại của văn hóa hội hè, Chu ta thêm một lần nữa “giật thót” đúng nghĩa của từ này. Giật thót vì thơ là thứ dễ lừa người ta nhất. Nhớ thời trẻ thỉnh thoảng đi tán gái toàn bị đánh bại bởi những thằng biết làm thơ. Một ẻm từ chối tình yêu của mình vì đã phải lòng một “ảnh” biết làm thơ: Đây, ảnh rất yêu em, ảnh tặng cho em bài thơ này. Mình đọc bài thơ của ảnh ấy vừa ghen vừa tự kỉ, vì không biết làm thơ nịnh gái. Bèn chuyển sang tỏ tình với một ẻm khác. Không ngờ ẻm này cũng phải lòng thơ: Em không thể nhận lời anh vì đâu nỡ phụ lòng ảnh. Bài thơ này ảnh thức cả đêm dài viết riêng tặng em. Té ra vẫn một bài thơ kia, chỉ khác cái dòng đề tặng cho riêng ẻm này hoặc riêng ẻm kia!

Đêm qua mình ôm vợ và “thấy lòng giật thót” như Trần Anh Trang. Cũng “thương con thuyền đầu bãi đứng chơ vơ”, nhưng con thuyền ấy lại là một trong hai ẻm kia. Xin lỗi vợ, vì đó là mối tình đầu, chẳng phải ngoại tình gì đâu!!!

Câu thơ của Trần Anh Trang không ngữ cảnh, đố biết con thuyền ấy là gì. Ông Thỉnh hiểu là đang nói về Hoàng Sa, Trường Sa nên nhét chung với chủ đề biển đảo. Còn vợ của ông Trang hay một ẻm nào đó đọc câu thơ này chắc chắn hoặc nổi trận lôi đình, hoặc sung sướng reo lên: Bỏ vợ đi anh!

 

 VĂN HÓA LỪA LỌC NHÌN TỪ LỄ HỘI ĐẦU XUÂN

                                              Nguyễn Thanh Hải

Thành tập quán rồi, “Tháng Giêng là tháng ăn chơi”. Không ăn không chơi không là tháng Giêng.

Sinh thời, Hồ Chí Minh là người ghét cay ghét đắng thói ăn chơi, tuy không tỏ vẻ khắt khe với tục (hủ) đầu năm… nhưng cụ bảo “Tháng Giêng là tháng trồng cây / làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Cứ thế mà suy, thời khác thì việc cũng phải khác. Chịu sự lãnh đạo của Đảng thì tháng Giêng phải là tháng tạo sinh chứ không thể là tháng hủy hoại, phá phách, nhất là sau những “…đêm dài, ngày ngắn…” thì “Mừng Đảng Mừng Xuân” phải hừng hực hơn mười ngày xưa mới là không “vong ân bội nghĩa”, mới là “uống nước nhớ nguồn” chớ!

Đằng này thuần phong mỹ tục, văn hóa đạo đức, pháp luật, bổn phận trách nhiệm… cứ càng đi vào chiều sâu của lễ hội đầu Xuân càng toác hoác, tả tơi như là… phơi bày ra tất cả. Trừ miệng lưỡi của một số không nhỏ, các quan văn hóa vẫn như mọi khi: “… tổ chức tốt hơn năm ngoái” còn sau lưng các vị thì vẫn hiển hiện đủ thứ ma cô: tiền bạc được “lót” dưới “cơi” mời trầu ở làng quan họ, để “liền chị / liền anh” có được cái gân cổ qua loa.

Chả có năm nào mà chả không tốt “… hơn năm ngoái” cả!

“Lên cao mới biết trời cao / khổ đau mới biết đồng bào khổ đau” [1], ấy thế mà “Đêm ôm vợ thấy lòng giật thót / thương con thuyền đầu bãi đứng chơ vơ” [2]… Khi tư tưởng là sự phản ánh hiện thực thì “có thức khuya” cơ “mới biết đêm dài”. Có ở trong lâu đài thì mới biết / quyết ngủ qua đêm lễ hội trong những  khách sạn hạng sang, chuyện ăn uống mới phó thác các nhà hàng đặc sản. Còn như sáng cúi, chiều chui, tối lòn trong mỗi túp lều thì khả năng chỉ còn là trải chiếu trên ghế đá bệnh viện hay công viên mỗi khi mẹ / cha, vợ / chồng, con đau  cái ốm. Tôi là tôi khi được vợ cho ôm vào lòng thì chỉ có… ngủ. Khi nào vợ giận đuổi lên nhà trên ngủ với bố thì lúc đó mới “gậy ông đập lưng ông”: thương vợ bơ vơ, đêm hôm khuya khoắt một mình một bóng lủi thủi vào ca. Thương gã xe ôm cố đợi khách để có thêm một cuốc cuối cùng, nếu không phải là “ngựa người / người ngựa” thì sáng mai con sẽ có tý lót dạ đến trường. Và cũng lúc đó mới nghe tiếng cô láng giềng có chồng đang “cuối bãi” thao thức: “con nhớ anh nhiều đêm biếng ngủ / nó khóc làm em cũng khóc theo / anh nhớ gửi về manh áo cũ / đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều” [3].

Than ôi! “Quanh Hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê” [4], người tiêu biểu của giai tầng xã hội duy nhất có chức năng “trung giới” với thánh thần. Trên những tế đàn càng chót vót càng gần với nơi cư ngụ của thánh thần, vua mới có cơ hội thấu thị cho thánh thần, để huy động sức mạnh tổng hợp phù hộ cho dân. “Âm phù / Dương trợ” là vì dân. Vì vậy, thần linh phải chịu trách nhiệm với vua bởi là thần hạ của vua. Trời không mưa thì mới phải cầu đảo, cầu đảo mà vẫn khăng khăng thì thần Pháp Văn bên Chùa Dâu sẽ bị vua trị. Đầu tiên là trách mắng bằng lời của vua, mà cứ chứng nào tật nấy thì long ngai của ngài sẽ bị mang ra phơi nắng, phơi rồi mà vẫn không chịu sửa chữa thì bị “ăn roi”, ăn roi cho đến khi mưa rồi mới thôi. Nhưng nếu thành khẩn sửa chữa thì vua cũng thăng thưởng chứ không đến nỗi bạc đãi với thần hạ. Vua Lê Thánh Tông xuất quân từ Thăng Long đến Quy Nhơn đánh Chiêm Thành, cả đi và về đều không gặp mưa bão nên thắng lợi càng to. Thắng to, nên vua đã thăng thưởng cho thần Đông Hải lên một cấp vì đã có công giúp đỡ quân lính của mình.

Thế mà dân chúng cứ “nước đục thả câu”, vàng mã, tiền giả, tiền thật, nhà lầu, xe hơi đời mới, hon đa chân số, tay ga,…, lại còn cả hình “…nhân chân dài”, “thượng cám hạ vàng” “có gì dùng nấy”, trắng trợn dâng / cung / tiến / cúng thánh thần, ngay đến một bộ phận không nhỏ thánh thần, do quán triệt được tinh thần trần thế không nhận đồ hối lộ, cũng bị dân chúng ép / dí vào tận tay. Triết lý “Trần sao / Âm vậy” không phải là sự chia sẻ mà là một sự báng bổ thánh thần. Không “ở trong chăn…” nên dân gian mới khát khao vinh quang và quyền lực đến vậy. Không gì tội nghiệp hơn đám đông từng đã giam mình trong những xế hộp biển xanh trên mọi nẻo đường trường, áo quần thơm tho toàn mùi tiền mới, lại còn phải chen chúc, chui rúc tại các sân lễ xin cho được tờ ấn, dâng cho được tờ sớ, mặc dầu chỉ là những sản phẩm của “công nghệ” phô-tô.

Thương cho thánh thần cứ bị hàm oan “trần sao âm vậy”. Linh thiêng “cầu được ước thấy”, sao các ngài không thấu thị ước nguyện của chúng sinh mà xuống tay bẻ cổ bọn người quen đưa hối lộ, cho cây cối quanh lễ đàn có được chút không khí không có khói “kim ngân”. Các ngài linh thiêng sao không ngó lơ cho pháp luật thẳng tay tống ngục bọn người cứ lải nhải cầu xin với khói vàng mã che kín mặt trời. Nơi âm giới xa xăm, không phải các ngài không biết bọn ăn đêm nhưng không thèm mặc “áo giấy”, cứ bóng lộn dưới ánh điện như giữa thanh thiên, chỉ cần vài tỉ “kim ngân” ra vẻ thành tâm “chia phần” là các ngài vui vẻ “tuân lệnh” chúng sai, để chúng cứ trước sao sau vậy?

Thì ra các ngài cũng vô cảm cả. Hoặc là, con người toàn quyền theo ý mình, vậy thì các ngài cần chi rút “phép thông công”, không thì con người không có tội tình gì thì các ngài cũng đừng chỉ nâng đỡ người này, mà không “tuồn cơ hội” cho những “con thuyền cuối bãi”. Mà như vậy thì thần linh đừng ban cho con người những tiền tài, bổng lộc, chức quyền để chúng không tìm cách “nước đục thả câu”, thừa cơ thần linh đạm bạc: “mồm ăn thì có, mồm nói thì không” mà “tuồn” bất cứ tiền nào miễn có được cái chức “quan nhàn” cho vẻ vang tiên tổ chúng.

Thôi thà cứ âm nào dương ấy, để con người khỏi mòn mõi ngóng trông chân lý ở thần. Chúng chỉ cần phải đi tìm chính bản thân mình, vì trong các tâm hồn đều đã có đủ đầy chân lý nếu biết giữ lòng tôn kính thần linh.

———————–

[1] Thơ Trương Quang Được

[2] Thơ Trần Anh Trang

[3] Thơ Giang Nam

[4] Thơ Chế Lan Viên

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.