Thương yêu dân chúng kính trời xanh

Chuẩn

Chu Mộng Long – Luật là một thứ diễn ngôn quyền lực. Nó được giai cấp thống trị hợp thức hóa bằng tri thức và bạo lực. Nó đủ mạnh để điều hành cuộc sống con người khi nền pháp trị của thời đại sinh ra nó nhất quán từ trên xuống dưới: không ai đứng trên hoặc ngoài pháp luật, dù là vua hay đảng. Kinh Dịch nói, Thượng hạ giao nhi kì chí đồng dã. Đó là bí quyết để các triều đại phong kiến tồn tại đến thiên niên kỉ, dù tri thức chứa trong các điều luật của nó hoàn toàn vớ vẩn và thứ bạo lực hành pháp của nó hoàn toàn man rợ.

13831821245455339

Quyền lực nguyên thủy

Điều đó cũng có nghĩa là, luật chỉ là một thứ khế ước lâm thời chứ không phải là chân lí, cho nên tính hợp lí của nó chỉ là tương đối trong vai trò thống trị con người. Trong điều kiện dân trí thấp, dân dễ thành công cụ của thứ quyền lực vô hình ấy. Nhưng một khi vua hay đảng đứng trên hoặc ngoài vòng pháp luật ắt dẫn đến hậu quả thượng bất chính, hạ tắc loạn. Và mọi diễn ngôn quyền lực, từ hiến pháp đến pháp luật, kể cả các loại chiếu chỉ, nghị quyết, chỉ thị… đều tự đánh mất quyền lực, những điều không nên làm trở thành nên làm một cách hài hước. Đấy cũng là lúc kẻ ý thức được sự tự do sẽ đòi tự do bằng các diễn ngôn chống lại quyền lực. Cái tất yếu sẽ đến và phải đến: trật tự cũ bị phân rã và một trật tự mới hình thành theo quy luật biện chứng của lịch sử.

“THƯƠNG YÊU DÂN CHÚNG KÍNH TRỜI XANH”

                                                                                                                                                  Nguyễn Thanh Hải

Vậy mà lịch sử xã hội phong kiến nước ta cũng không hiếm thời kỳ dân chúng hưởng được phúc ấm của Tổ tiên, để cùng được đem cái tai rõ cái mắt sáng nghe trông cho nhau, đem cái chân tay khỏe mạnh mà làm lụng cho nhau, kẻ hữu đạo cùng dạy bảo nhau, khiến người già nua cô độc cũng được trọn đời, kẻ côi cút có nơi mà nhờ cậy. Trong những thời kỳ huy hoàng ấy thì, Hồng Đức là một trong những thời Đại Hồng phúc, mà nếu thực có một “dân chủ gấp vạn lần dân chủ tư sản” thì chắc chắn đó trước hết phải là thiết chế quân chủ của dân trong “Lê triều hình luật” (Luật Hồng Đức).

Nửa cuối thế kỷ XV, Phương Tây, nếu có được bản “Hiến pháp tư sản” nào thì chắc chắn cái hiến pháp ấy cũng chỉ quy định quyền làm chủ của giai cấp phong kiến. Còn như để không bẽ bàng với bất cứ chế độ phi quân chủ nào thì, hiến pháp ấy tựa hồ như để thể hiện như thế nào đó dưới hình thái một ý chí chung, chắc nó sẽ phải tuyên bố một cách đại để là: Chủ nghĩa Mác coi pháp luật tư sản chẳng qua là ý chí của giai cấp tư sản được đề lên thành luật lệ, mà thế kỷ XV-XVI giai cấp tư sản đang vùng vẫy để cố thoát khỏi kỷ đêm trường nên chưa thể có được một cái hiến pháp bình dân theo nghĩa của nó(1).

Luật Hồng Đức được ban bố vào năm 1483, bởi đức vua Lê Thánh Tông (1470-1497), niên hiệu Hồng Đức. Nguồn hình thành dựa trên cơ sở kết tập tất cả các điều luật, các văn bản luật được ban bố và thi hành trong các triều đại nhà Lý với Hình thư (1042), nhà Trần với Quốc triều hình luật (1230) và “không ngừng được các triều vua kế tiếp bổ sung, hoàn chỉnh dần, trong đó chắc chắn là có những đóng góp to lớn của ông vua nổi tiếng văn hiến Lê Thánh Tông”(2).

Lê triều hình luật có thể đã được chuẩn bị ngay từ những năm đầu dưới triều Lê Thái Tổ. Được như thế tức nó là sản phẩm của lịch sử, kết tinh toàn bộ phúc ấm của tổ tiên mà tính kế thừa là một nguyên tắc –  cái nguyên tắc đã quy định nên gương mặt văn hiến Lê Thánh Tông “thế thiên hành đạo”: thương dân như con, trung thành với Tổ tiên, với gia tộc, mà được “bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng”.

Xã hội có giai cấp, tất nhiên là không có cái gì mà không mang tính giai cấp. Trên lập trường giai cấp và ý thức hệ phong kiến Việt Nam, Luật Hồng Đức lấy “thương yêu dân chúng kính trời xanh” làm “Đạo lớn của Đế vương” là đề lên hàng đầu nguyên lý “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Nhưng vì thế mà cho rằng Luật Hồng Đức không bao hàm những yếu tố khắc nghiệt, tàn bạo… như mọi bộ luật của chế độ người bóc lột người thì là “mơ hồ giai cấp”. Song, tính chất tiêu cực trong nó đã hoàn toàn không đè bẹp nổi tính rất dồi dào của chủ nghĩa nhân văn, tinh thần nhân bản cốt tủy của Nho-Phật-Lão và nhất là những giá trị tốt đẹp đậm đà tinh thần nhân nghĩa, nhân ái, hòa mục, hợp tác… vốn có trong truyền thống dân tộc và tập quán tín ngưỡng Việt Nam. Không là như thế, hẳn nó không thể đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ thực tiễn đặt ra đối với giai cấp địa chủ phong kiến đương thời trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trong việc xây dựng và củng cố chế độ phong kiến thịnh trị với một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền.

Người Mỹ triết lý: không thể tranh luận với sự thành công!

Vua lấy quyền thiên tử “kính trời xanh” bởi “trời sinh ra vua là vì dân”, nên mọi hành vi, thái độ ruồng rẫy dân chúng, báng bổ Thánh thần, xúc phạm uy danh Tiên tổ… đều bị coi là vi phạm nguyên lý “thương yêu dân chúng”, bất “kính trời xanh”, ấy là phạm Đạo, tức vi phạm luật pháp và phải bị nghiêm trị, bất kể người đó là dân thường hay…, kể cả là “quận vương” Tư Tề, người con trưởng của Lê Thái Tổ(3).

Đã đành, lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam, không mấy triều đại không dựa vào Nho giáo, dựa vào pháp luật Trung Hoa để mưu vĩnh viễn hóa quyền lực tuyệt đối của nhà nước thế tục cũng như địa vị cầm quyền của giai cấp địa chủ. Tính chất không ngoại lệ của Luật Hồng Đức đã dành hẳn chương Vệ cấm với 47 điều, ngoài ra còn nhiều điều rải rác trong 12 chương còn lại, nhằm quy định rằng tính mạng, thân thể, quyền vương hữu của nhà vua là bất khả xâm phạm. Theo đó, mọi hành vi tùy tiện xâm hại thái miếu, hoàng thành, cung điện, nơi tu viện, chốn phượng thờ… cùng các hành vi xâm hại tới an ninh quốc gia, buôn bán mắm muối, ruộng đất, gỗ quý, vàng sống, sản vật quốc gia, binh khí… bừa bãi và cho người nước ngoài đều bị quy tội làm nguy hại đến xã tắc nằm trong các tội thập ác với các khung hình đồ, lưu, tử hình… Ngoài ra, những hành vi, hành động làm tổn thương, gây nguy hại, thách thức với lễ chế tôn quân, trung quân, tam cương, ngũ thường, đe dọa đến trật tự đẳng cấp (đẳng cấp quan liêu), thách thức với phong hóa, kèn cựa với các chuẩn mực đạo đức… đều là vi phạm đến quyền lực tối thượng của nhà vua, đến lợi ích và sự tồn tại giai cấp và chế độ quân quyền, và chúng cũng phải được xem là vi phạm luật pháp.

Tuy nhiên, tính chất hà khắc hay cay nghiệt đến đâu của bộ luật này cũng cốt là để duy trì trật tự phong kiến thế tập, thiết lập kỷ cương, bảo đảm sự ổn định của cương vực nhằm thực hiện lợi ích cho giai cấp địa chủ phong kiến. Nhưng dù là thế nào thì một xã hội có trật tự, có kỷ cương, và thật sự ổn định thì nó mới sản sinh ra cái năng lực thực hiện được những quyền cơ bản cho con người, và quyền này đến lượt nó mới giúp cho việc duy trì một xã hội trật tự của Kỷ Nhà Lê.

Nếu biết dẹp sang một bên những định kiến như là một thói quen của giới học thuật chuyên viết giáo khoa đương đại, người ta sẽ không thể không nhìn ra, qua 722 điều của Luật Hồng Đức những giá trị nhân văn với những nội dung tư tưởng bao dung rộng lớn, kể cả những điều luật tưởng chừng như chỉ là để bảo vệ cái “niêu cơm” của vua và hoàng tộc. Nguyên tắc lập hiến lấy từ Kinh thư của các triều đại phong kiến Phương Đông: “Đất đai dưới trời đâu chẳng là của vua, người trên đất ấy ai chẳng là thần dân của vua”, khiến vua trở thành vị đại địa chủ sở hữu mọi nguồn lợi dưới trời, tức thiên hạ. Quyền vương hữu và thần dân hóa toàn thể xã hội, khiến những quân gia, nếu không muốn trở thành bá đạo phải biết lễ phục trước Tôn Miếu tổ tông. “Lễ không lớn bằng phận, phận không gì lớn bằng danh, danh phận là bờ đê của nhà nước, không thể không cẩn thận. Danh phận có chính thì cương thường mới dựng nên”(4),“… đế vương là nghiệp lớn, cương thường là đạo chính. Cương thường lập thì nghiệp lớn của đế vương mới thành; nhân nghĩa tỏ thì ngôi báu của thiên hạ mới định (…) giữ thiên hạ thì dùng nhân, lại càng lấy nghĩa mà duy trì, lấy nhân để cố kết, lấy trí để trông coi, lấy tin để ngăn phòng, về đạo tu tề trị bình (…), công đức tích lũy cố nhiên không phải một ngày”(5). Quản lý đất nước trong triều vương hữu  tuy phải dựa vào họ hàng nhưng không vì thế mà vua chúa trọng ngựa hơn trọng nước, ngựa ốm thì thuốc thang, nước hỏng thì giao cho con cháu (ý của Mạnh Tử), nên chính sách tiến hiền tuy không khắc phục được tình trạng tôi tiến con cháu anh, anh tiến con cháu tôi, nhưng chương Vi Chế, chương Trá Ngụy đã cố gắng dành cơ hội cho đứa “cố gắng đọc sách để biết đạo sáng suốt giữ mình…”(6) nhằm duy tu phong hóa trong nền Vương chính. Khi “Tấc đất ngọn rau ơn chúa” thì phải sao để dân chúng hàm ơn, đó mới là thực chất của “hưởng dân”. Bổn đạo tôn “kính trời xanh” là vua / tôi, cha / con, chồng / vợ, anh / em, bạn hữu ai ai có bổn phận người ấy: trên không tùy tiện sử dụng bạo lực, dưới không cuồng nộ chán ghét cảnh nghèo, an phận mà tu thân, tề gia, trị quốc, thiên hạ bình, thì đó là tiền đề cơ bản cho quyền con người được nhìn nhận. Dẫu có là trên lập trường của giai cấp địa chủ, thì đây là điều kiện hợp hiến để thực thi có hiệu quả quyền con người, mặc dầu điều kiện này có thể không nằm trong mong muốn của toàn thể giai cấp thống trị thời Hồng Đức. Nhưng cũng chính vì là như vậy mà quyền con người đã là một công cụ đắc dụng bảo hiểm an sinh cho dân chúng được bốn mùa yên ổn làm lụng phụng dưỡng cha mẹ, nuôi dạy con cái, chăm sóc vợ chồng. Tính chất cưỡng bức của luật pháp trong Luật Hồng Đức ít nằm ở động cơ tôn quân mà tìm cách thể hiện nơi quan hệ giữa người và người theo tinh thần của đạo “tu thân” “tề gia” “tam tòng tứ đức”, “trên dưới không tranh” nhằm cho quyền làm người, chứ không phải là quyền thần dân (thần dân cũng như nô tỳ, nông nô không được quyền gì cả) được thừa nhận. Đoạn văn trong Toàn Thư về thời kì này: “Xưa Thái Tổ ta chải gió gội mưa để bình định thiên hạ, bấy giờ bề tôi có công giúp việc, cùng chịu lao khổ, ân nghĩa đều lớn, cho nên đặc ân ban cho quốc tính để tỏ yêu quý. Nhưng con cháu noi theo lâu ngày, sợ rằng làm mất họ cũ của tổ tiên, trái với đạo dạy người hiếu thảo. Từ nay về sau, công thần được đặc ân cho quốc tính thì chỉ một đời bản thân người ấy thôi, còn con cháu thì lại theo họ cũ”(7), là như thông điệp nhiếc kẻ làm công tác cán bộ thời nay sao không biết lo. Nên “… khanh nếu nghĩ đến nước, cơm cháo phải cố ăn; khanh nên lo cho ta, thuốc thang phải cố chữa (…) Người đời xưa cúng trời tế quỷ để trừ tai ách, khanh hãy nghĩ xem”(8)… như lời dạy kẻ làm quan đời nay sao không biết giữ. Các quyền con người như được chăm sóc, được nuôi dưỡng, được bảo đảm an toàn, được “bảo hiểm” với cả người già cả ốm yếu, tật nguyền, kể cả kẻ sa cơ lỡ vận đến phụ nữ bạc phận…  được ghi nhận tất tần tật trong “Đạo lớn của đế vương”… để từ đây, các tội bất trung, bất hiếu, bất kính, bất tiết, bất nghĩa được đưa hết vào tội thập ác, và được xem xét lần lần qua 772 điều.

 Các điều 475, 503, 504, 506… định rõ: con cháu lăng mạ tố cáo ông bà cha mẹ, vợ tố chồng (trừ khi mưu phản, đại nghịch) thì sẽ bị lưu đày; con cái “trái lời cha mẹ dạy bảo”; “nuôi nấng thiếu thốn”, bê trễ, chối bỏ bổn phận với bề trên; con nuôi, con kế thất hiếu với cha nuôi, cha dượng sẽ phải bị xử tội đồ; con dâu / rể lăng loàn, mắng nhiếc, đánh đập, mưu hại, bức tử cha mẹ chồng hay vợ, hỗn hào với cô dì, chú bác, cậu mợ; ngược đãi anh em của cả hai bên cũng sẽ bị áp tội đồ, lưu theo các điều 476, 477, 478… Quan lại, kẻ có chức quyền không được tùy tiện quấy nhiễu nhân dân (304, 362…), phải đảm bảo an ninh, an toàn cho dân yên ổn làm ăn (458, 645, 646, 647, 648,…), phải có bổn phận thực hiện trách nhiệm đạo đức và pháp luật chăm sóc người già cả cô đơn, trẻ thơ côi cút, người tàn tật, kẻ thấp hèn… (294, 295…), không được lợi dụng chức vụ hay quyền hạn để chiếm đoạt tiền bạc, tài sản của các hạng lương dân…

Luật Hồng Đức còn quy định rõ ràng những hành vi xâm phạm đến nhân phẩm con người: đánh đập, lăng mạ, làm nhục lẫn nhau giữa những người trong gia đình, họ tộc nội ngoại; tố cáo sai; vu khống… đều phạm vào các điều từ 473-476; 501-505; quan lại ức hiếp dân lành; vu oan giá họa để rồi tự tiện, bắt bớ giam cầm người vô tội sẽ phải được định liệu bởi các điều 164; 636. Phạt không đúng tội, và không đúng luật định sẽ bị áp các điều 658; 679…, ngược đãi tù nhân (điều 663; 707); đánh chết, bức tử người tù (682); tra tấn tù nhân tuổi cao, đánh đập tù nhân vị thành niên (665); không chăm sóc tù nhân (663) cũng sẽ tùy vào mức độ mà không thể tránh khỏi trừng trị. “Các tước vương công và nhà quyền quý tự tiện thích chữ vào dân đinh”, cùng tất cả kẻ nào tự tiện thích chữ vào vợ, con người khác, vào kẻ ăn người ở nhà mình đều phạm các điều 165; 168; 365. Những quan lại và ai lợi dụng quyền thế ức hiếp lương dân, ép duyên con gái lương dân (336; 338); tự tiện bắt dân đinh làm đầy tớ (302); bắt ép phụ nữ muốn thủ tiết lấy chồng (320), cùng các hành vi gian dâm (401-410), đều chung những khung hình phạt… Các điều từ 401-406 thể hiện ra những nỗ lực cộng đồng ngăn chặn những hành vi vi phạm nhân phẩm người khác như hiếp dâm (kể cả gian dâm với trẻ từ dưới 12) loạn luân đều bị nghiêm trị với các hình phạt lưu phóng, thậm chí giảo, chém.

Luật cũng quy định rõ ràng quyền con người được pháp luật bảo hộ như bình đẳng trong thực thi pháp luật, tự do kết hôn, tự do bảo vệ hạnh phúc gia đình, bảo vệ tính mạng, tài sản: quyền tự do kêu oan (687); quyền tự do tố cáo quan lại thu thuế trái quy định, tố cáo kẻ cả gan chiếm đoạt ruộng đất, kể cả các khoản thu để quà cáp biếu xén cung phụng quan trên, cũng không loại trừ cả hành vi “lấy của làng làm sang cho xã”: dâng, cúng, tiến… vua (206; 300; 326; 335; 336; 338)!

Ngoài ra, chương Hộ hôn còn đưa thêm những điều cấm kỵ anh, em, học trò lấy vợ/ làm chồng vợ của em, của anh, của thầy đã chết (324), điều 294 còn quy định trừng trị kẻ loạn luân cùng hành vi gả, bán vợ… Điều 320; 333 định rõ kẻ đã dẫn gả con gái nhưng rồi trở mặt chỉ vì thấy người rể kia nghèo khổ mà bắt lại con về thì bị phạt 60 trượng; biếm, mà người gái ấy cũng không được rời bỏ chồng. Điều 315 quy định nghiêm trị bất cứ kẻ nào đã nhận đồ sính lễ rồi mà còn quỵt, đem gả con cho người khác 80 trượng, còn khi đã thành hôn với người khác ấy rồi thì bị xử tội đồ, kẻ sau biết thế mà nhắm mắt lấy bừa thì cũng áp tội đồ để trị, người gái kia phải được gả cho người hỏi trước, còn như người trai kia nay rẻ rúng chê bai, thì nhà gái nọ phải bồi thường gấp đôi đồ sính lễ. Vợ cả, vợ lẽ mà tự tiện bỏ nhà chồng, hay chê chồng đi lấy chồng khác sẽ bị xử tội đồ và bắt phải về lại với chồng cùng toàn bộ gia sản lấy đi. Người đàn ông nào biết thế mà vẫn tiếc của trời thì cũng phải chịu tội đồ. Điều 308; 309… quy kết, đã có trách nhiệm làm chồng thì không được ruồng bỏ vợ, phải yêu thượng vợ, chăm lo hạnh phúc cho cả gia đình; bỏ lửng vợ từ 5 tháng thì người vợ được phép trình quan sở tại hay xã quan để được tự do, kẻ kia mà ngăn cản ai lấy người vợ cũ mà mình ruồng, thì khép vào tội biếm. Quá say với nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì cũng cùng tội vô trách nhiệm làm chồng… Đã được hưởng những quyền lợi thì cũng phải có bổn phận gánh vác những nghĩa vụ với đời. Trời không cho ai tất cả, mà không lấy đi của ai cái không phải vốn là của nó bao giờ!

Trung thành với Nho gia, nhưng nhập gia, nên hôn nhân cũng phải tùy tục. Nếu ở đâu người phụ nữ bị coi thường bị hạ thấp, thì trong Luật Hồng Đức đã cố gắng vớt vát và ít nhiều hiệu quả cho quyền làm người đối với kẻ “sáo đẻ dưới nước” cũng không bao giờ được “làm chồng”, bằng việc nới lỏng cho quyền định đoạt và bảo vệ hôn nhân, hạnh phúc cá nhân (308). Người gái nào đã được hứa gả mà chưa kịp thành hôn, sẽ được tự do kêu quan trả lễ / hủy hôn, nếu người trai kia bị ác tật hay trở thành tội phạm, kể cả phá tán sản nghiệp của gia đình (322); ở đâu người phụ nữ không được ly dị thì Luật Hồng Đức cho phép thực quyền trong một số trường hợp chính đáng; được ngang quyền sở hữu tài sản và có quyền sở hữu tài sản riêng và một phần tài sản riêng của chồng nếu ly hôn không do lỗi của người vợ, và kể cả khi nửa đường đứt gánh (375); con gái cũng có quyền được thừa kế tài sản của bố mẹ (388), được hưởng quyền hương hỏa nếu nhà không có anh em trai (391).

Quyền được sống, được chăm sóc, được bênh vực và bảo vệ trong Luật Hồng Đức là một biểu rất tập trung luận điểm macxit: không phải bao giờ và bất kể lúc nào, địa vị thống trị của các giai cấp, các thế lực thống trị cũng được quy định như nhau và trực tiếp bởi địa vị kinh tế. Giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam không thuần túy là giai cấp quan liêu, mà quan trọng hơn nó là giai cấp đánh dẹp. Nếu không như thế mà ngẫm nghĩ đến việc nó phải làm gì đó cần thiết cho con người để còn cơ may duy trì bản thân nó với tư cách còn là một giai cấp dân tộc, không phải chỉ “thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng mất”, trước những con mắt cú vọ lân bang “chẳng khác nào để mồi lửa dưới củi; nên tự răn cái sự do canh nóng thổi dưa”.

 Dân chúng của xã hội Việt Nam truyền thống đã chứng tỏ nó không phải không có vai trò gì, mà thậm chí là vô cùng to lớn. Sự này không ở năng lực nó tự “giác ngộ”, khi giác ngộ tùy thuộc vào phương tiện truyền hình, mà tất cả là nhờ ở cái “nết na” của thế lực vốn thường coi dân như chó ngựa. Trong hầu như tất cả các chiếu dụ, điều của các triều đại phong kiến Việt Nam, đều như muốn  tranh đua quan tâm đến đời sống của người dân như một nghĩa cử “khoan thư sức dân kế sâu rễ bền gốc” là thuận đạo. Phàm là, “Ai cũng tùy thuận với đạo, cùng thuận theo biến chuyển của trời đất, người đó làm chủ thiên hạ.”(9)(sách Hoài Nam Tử)

Quyền con người (tuy còn nhiều mặt hạn chế lịch sử của thời Hồng Đức), không phải chỉ biểu hiện ra ở đường lối chủ trương mà quan trọng hơn nó tìm cách răn đe để khỏi xảy ra tình hình vua yếu / tôi mạnh trong từng chiếu, dụ, hướng dẫn thực thi pháp luật hay luật định hóa. Cho nên, quân gia phải như cây nêu, cây ngay bóng mới thẳng; như cái nguồn, nguồn trong thì nước sao lại không. “Mùa thu, tháng 7, đại hạn, vua không ngồi ở chính điện, giảm bớt món ăn, triệt bỏ đồ nhạc”(10)  mà tỏ cái biết “công của khanh trẫm chưa báo đền… khanh nên lo cho ta, thuốc thang phải cố chữa”.  “…Hạ lệnh cho các tướng hiệu và các quan rằng: Từ xưa tới nay trị nước phải có pháp luật, không có pháp luật thì sẽ loạn. Cho nên học tập đời xưa, đặt ra pháp luật là để dạy các tướng hiệu, quan lại, dưới đến dân chúng trăm họ biết thế nào là thiện, là ác, điều thiện thì làm, điều chẳng lành thì tránh, chớ để đến nỗi phạm pháp”(11). Nên mới “Có thánh chỉ rằng tội còn ngờ thì xử giảm mức”(12), nhưng “Phàm việc xây dựng sữa chữa, kẻ nào mượn cớ mà đẽo khoét xoay tiền, thì theo luật xoay tiền mà trị tội”(13) thì lại không chỉ ở sự tôn nghiêm, mà là ở trách nhiệm quản trị những khoản tiền công phải được ràng buộc bổn phận: bảo lưu được phẩm giá của con người trong mỗi đồng tiền bát gạo! Có bảo lưu được phẩm giá của con người, thì mới đủ sức răn đe những hành vi và mưu đồ đen tối tự tiện “dỡ nhà người khác về làm chuồng lợn”: toàn bộ tài sản, cơ nghiệp của người ta mà bị chiếm đoạt hoặc thu sai quy định đều phải trả lại và phải trả lại gấp đôi (181; 185; 186; 206; 300; 325; 326; 336…). Điều 325 dứt khoát thu thuế phải công bằng: phải phân biệt được người giàu, người nghèo, người mạnh, người yếu với các phương thức, quy mô và thời gian cụ thể nhiều / ít, trước / sau. Các tội tự tiện mua bán giết thịt gia súc, phá hoại sức kéo, tàn phá hoa màu, mùa vụ, bê trễ duy tu cầu cống, đê điều, không chăm lo sửa sang đường xá làm ảnh hưởng đến nhà nông, gây hại đến dân sinh đều được coi là đắc tội với Trời, phạm đạo trung / chính (573; 575; 578-581; 596; 633; 635…).

Luật Hồng Đức còn tựu nghĩa không ngơi ngoai bỏ ngoài đời sống tinh thần, ngôi nhà chung của xã hội toàn thể. Các hành vi vi phạm trật tự kỷ cương; hòa mục cộng đồng đều bị cấm kị và đe dọa trừng trị. Các tội nhận hối lộ, gian dâm, ăn mặc càn rỡ, dung nạp bừa bãi bọn vô lại; tuyên truyền cổ xúy văn hóa của bọn ăn cướp; chứa chấp bọn anh chị giang hồ; bói toán đồng cốt; không truy bắt trộm cướp, tham nhũng, quan liêu… (284; 332; 337; 413; 538; 640 …) đều phải được áp tội đồ .

Quyền được bênh vực được chăm sóc được bảo vệ… của dân chúng, đòi hỏi bổn phận trách nhiệm của nhà vua và quan lại phải ngay thẳng trung thực chăm lo cho dân: có ăn có mặc, khỏe mạnh, được chữa trị (kể cả tù nhân: 665), giảm nhẹ mức độ hoàn cảnh khó khăn. Điều 294; 295 định: nhà nước và tất cả mọi người phải có trách nhiệm chăm sóc nuôi nấng người đau ốm, đơn côi, kẻ tứ cố vô thân, địa vị thấp hèn, tàn tật, góa bụa, không nơi nương tựa, quan gia sở tại phải không được bỏ rơi họ; già từ 70 trở lên, trẻ từ 15 trở xuống và người bị tàn phế tật nguyền nếu phạm tội (không thuộc Thập ác), được cho chuộc bằng tiền; từ 90 trở lên, 7 tuổi trở xuống có mắc tội chết thì cũng được tha; khi phạm tội chưa già, nhưng khi phát hiện thấy thì đã già và tàn tật thì xử theo luật già cả, tàn tật; lúc nhỏ phạm tội, nhưng bị phát giác vào bất kể lúc nào cũng xử tội theo luật khi còn nhỏ; kẻ tự thú (trừ đã mắc tội Thập ácgiết người) thì được tha (18). Kẻ chủ mưu, cố ý cướp của, giết người, bạc đãi, đánh đập, khủng bố… kể cả mới chỉ là những biểu hiện, thì cương quyết không tha. Kẻ tự hủy hoại, kể cả dự mưu cố ý hủy hoại thân thể của mình, cũng như của người khác cũng phải được áp tội lưu, người biết việc này mà không tố giác hay bao che phải bị xử tội đồ (305); quan lại không bảo vệ được dân trước nạn thú dữ cắn hại thì áp tội biếm (371). Đánh độc người, cũng như bán độc dược cho người, nuôi cấy trùng độc để hại người, cũng như dạy người khác cách nuôi và dụng chúng, phải áp tội giảo hay chém (424); cố ý làm bị thương, bày trò làm sát thương hay giết người, dù có là tòng phạm cũng đều được khép chung với tội giết người, kẻ biết mà không tố phải bị xử tội lưu (415; 420; 424-428; 474-494); dùng thuật tà ma, bùa chú dẫu chưa gây chết người là đắc tội mưu sát, và cũng chỉ nhẹ hơn hai bậc so với tội giết người; giết người tàn bạo (giết tới 3 người trong cùng một gia đình không đáng tội; xả thây người ta), ăn cướp kết với giết người (420; 426), cướp, trộm gắn với hiếp dâm thì cả chủ mưu lẫn tòng phạm đều chung tội bêu đầu

Tân Hợi, năm thứ 22 (1491) tháng Dậu, “ngày 28, 29, cả ngày lẫn đêm đều mưa không ngớt” lũ lụt nhiều nơi. “Ngày 29, [vua] sai các Chỉ huy, Hiệu úy, Bách hộ hai vệ Cẩm y và Kim ngô đi các thừa tuyên gần khơi thông nước úng làm hại lúa mạ. Vua dụ các quan tể thần, năm phủ, sáu bộ, sáu tự, sáu khoa và Ngự sử đài rằng: “Vì chính trị thiếu sót, nên trời làm tai biến, đó là lỗi của trẫm mà thành ra thế, chứ nhân dân có tội gì đâu. Có phải vì trẫm đức tín chưa khắp đến dân, lòng thành chưa thấu đến trời mà đến thế chăng? Trẫm không rõ các khanh ngày thường ở nhà có lo việc nước, chăm chắm trong lòng không chút lơ là, để giúp chỗ thiếu sót của trẫm không, hay là chỉ dong chơi mà dưỡng tính, mưu lợi vì lòng riêng, theo người ta mà tiến lui, để giữ bền quyền vị chăng? Các văn thần thì ít người trung nghĩa, phần nhiều gian hoạt, bán lòng chẳng để cầu danh, hình như là trung, hình như là tín, như bọn Trần Phong, Đào Tuấn thì làm thế nào mà đổi dạ được! Ngày xưa Thái Tôn hoàng đế ta, vua tôi một lòng, vua sáng tôi hay, bề tôi chăm việc, vua được vui lòng, khí hòa tốt lành, có thiếu nghĩa đâu! Khoảng đời Thái Hòa, Diên Ninh, chính trị chỉ quanh quẩn trong chốn màn the, người giúp đỡ thì nắm quyền uy phúc. Tổn hại thế nước là bọn Khắc Phục, Mộng Tuân, chạm tường hại dân là lũ Đỗ Bí, Đỗ Trượng, để đến nỗi biến sinh ra trong tường nhà, họa xảy ra nơi gối nệm, con cháu của Bí Trượng một mẻ lưới bị chết hết. Đường Thái Tôn nói rằng: “Vua đã mất nước thì bề tôi vẹn toàn thế nào được”, thực là đúng lắm. Từ nay về sau, kẻ nào còn quen thói nhơ bẩn như cũ, theo người ta mà tiến lui, mưu giữ bền quyền vị, thì trẫm vì các khanh mà giết đi; hoặc kẻ nào theo lời dạy bảo mà bỏ lỗi trước đi, dốc lòng trung tín, hết sức hết trí, trẫm cũng vì các khanh mà hậu thưởng. Các khanh nên cố gắng đấy”(14).

“Thiếu kết trư ư Thái Tổ;

Trưởng tín nhiệm ư Thánh Tôn;

Thể cụ nhi dụng chu;

Tử hiếu nhi thần trung;

Tứ triều lịch sự;

Nhất tiết thủy chung”.

(Trẻ được Thái Tổ biết/ Lớn được Thánh Tôn tin/ Thể đủ, dụng cũng đủ/ Con hiếu mà tôi trung/ Trải thờ bốn đời/  Trước sau một tiết)(15) .   

 ____________________

 .(1) x.Quốc Triều Hình Luật (Viện Sử học dịch và giới thiệu). Nxb Tp Hồ Chí Minh, 2003. Lời nói đầu.

(2) Sđd, Lời nói đầu.

(3) x. Đại Việt sử ký toàn thư. VHTT, 2004. t.2, tr. 117.

         (4)  Sđd. t.1, tr. 56.

         (5) Sđd. t.1, tr. 60.

         (6)  x. Sđd t.2, tr. 300.

         (7),(8) Sđ d. tr. 261

(9) Dẫn theo Đạo của vật lý, Fritjof Capra. Nxb Trẻ, 2004. tr. 124.

(10) Đại Việt sử ký toàn thư, VHTT, 2004. t.2, tr.255.

(11) Sđd. tr. 88.

(12) Sđd. tr. 261.

(13) Sđd. tr. 351.

(14) Sđd. tr. 420.

(15) Sđd. tr. 255.

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.