Một cách giải mã sinh lí thần kinh logic

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Pascal

B. Pascal (1623-1662)

Chu Mộng Long – “Con người là cây sậy, nhưng là cây sậy biết suy nghĩ” (Pascal) – cái sinh thể của tự nhiên là con người chúng ta luôn chứng tỏ mình cao hơn tự nhiên bằng tư duy sắp đặt lại thế giới. Những gì đã lỡ bất hợp lí trong trò chơi sắp đặt lịch sử của con người đến lúc phải sắp đặt lại hợp lí hơn nếu không muốn lịch sử rơi vào thảm họa.

Bài viết sau của Nguyễn Thanh Hải gửi cho Blog Chu Mộng Long muốn chia sẻ với bạn đọc về sự phát huy vai trò công – dân – người của chúng ta nhân đợt sửa đổi Hiến pháp mà đảng và nhà nước đang chủ trương.

Chắc chắn là khó đọc, nhưng chính đọc khó mới không dễ bỏ qua.

MỘT CÁCH GIẢI ‘MÃ SINH LÝ THẦN KINH’ LOGIC

Nguyễn Thanh Hải

 I.

Không có trí nhớ để lưu giữ quá khứ nhằm so sánh với hiện tại thì không có tư duy, không có cái người. Một bối cảnh đã định hình trong tâm trí mà không được huy động đem ra đặt ở phía trái của hiện nay, để từ đây đưa ra một bối cảnh mới ở bên phải của bây giờ, qua việc kết nối chúng lại theo quan hệ nhân quả bằng phép kéo theo thì cũng chỉ và chỉ là loài động vật có vú.

Cuộc đụng độ giữa siêu cường năng suất lao động với bên kia là sức lao động chỉ vừa thoát thai trình độ cơ bắp, được tính toán như một cơ hội cho các nước trong khu vực Biển Đông. Nên, nếu “Bảo vệ tổ quốc Việt Nam thời xã hội chủ nghĩa hiện nay (…) là bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng (…) [và] tương lai sẽ hưởng…” thì,

Một hướng dẫn viên du lịch thay vì nói một chú cá voi trưởng thành luôn có trọng lượng trên hai mươi tấn đã cương quyết từ chối câu nói là chúngtrọng lượng tối thiểu là mười chín tấn, kể cả thích thì vẫn được cộng thêm…, ngàn cân !

Khủng long bạo chúa đã không thể sống sót vì đã không chịu giảm cân để  bớt đi sự dễ thấy. Hơn nữa, là loài thú máu lạnh, khủng long đã chọn lấy ban ngày mà dành toàn bộ ban đêm cho loài động vật có vú máu nóng. Nhờ sự bao bọc của màn đêm, loài có vú đã nỗ lực tiến hóa để có được một thính giác và dựa vào khứu giác để tái hiện mùi đồng thời với lúc ăn, khiến nó quen dần mà nhớ lại con mồi trong mỗi hành trình tìm kiếm thức ăn giữa mịt mùng đêm tối. Những mùi khác nhau dần được  lần hồi sắp xếp lại theo trình tự chuỗi làm kích hoạt việc suy nghĩ theo trật tự tuyến tính thời gian. Chú chó lần trở lại nhà nhờ ở chỗ nó nhận ra cái nơi nó “tè” lần lượt lúc ra đi, để khỏi bị người đời cười chê: chó chê chủ khó !

Trạng thái chập chờn của trí nhớ ở loài có vú thế hệ đầu, khiến chúng phải xoay xở lắm lắm với cái tuổi thơ dữ dội, bởi cái năng lực chưa kịp nở đã lấp ló chịu mồ côi. Nhưng dù sao thì nó cũng đã có thể bắt đầu… suy nghĩ hay gần như là thế, để có thể mà ngẫm ngợi. Đã đành mới chỉ dưới một hình thái giản đơn của một năng lực chung: tái hiện, ghi lại trong nó những đặc điểm của khách thể khác, mà Lenin gọi là đặc tính phản ánh, song đó chính là hình thái đã qua, để cái năng lực trí tuệ biết tự ngẫm đi đến chính bản thân nó ở con người.

Khi loài có vú có được cái khả năng tìm lại chỗ quen ăn với món “khoái khẩu” cùng với cái cảm giác thư giãn sau lúc no nê, như trên ghế bọc trong các tiệm dao kéo có em út chuyên nghiệp chọc ngoáy…, thì chủ nhân ông như đã thoát được ra khỏi nơi hiện tại cầm tù… Trí nhớ sơ khai sẽ tạo nền cho việc lên kế hoạch, rút kinh nghiệm, lựa chọn phương thức đáp trả tác động từ bên ngoài. Khi mùi vị thức ăn đã tăng cường khả năng nhận dạng của loài có vú đối với con cái chúng qua mùi, chẳng hạn, nếu đã quen ăn nội tạng động vật bốc mùi, thì ruồi muỗi…“thoáng qua” là có thể biết ngay ấy là “con đực hay con cái” (!) Người phương Tây có một ẩn dụ thú vị: anh không thể thoát khỏi mùi của mình, nghe như Sancho miêu tả giai nhân Dulxinea ở làng Tobozo của Don Quijote có mùi… con đực ! Cái mùi khó ưa nhưng mà dễ thương ấy đã gắn kết lại với nhau các thành viên của cộng đồng. Khối đá tảng bản năng dần dà được cộng đồng gạt sang một phía, và trí thông minh đã bẽn lẽn như gã trai quê trong truyện của Kim Lân.

Cặp thùy khứu giác của vỏ não động vật có vú đang dần xuất hiện đã góp phần làm cho vỏ não tưng bừng như pháo hoa trong lễ hội Thăng Long… Trí thông minh đã tựa hồ như chàng Tề Thiên nhí bởi tự kiếm ăn mà phải rời lưng mẹ… Các nơ-ron thần kinh từ mũi với đặc tính quen mùi được nối trực tiếp với trung khu ngay trên vỏ não. Mối liên hệ giữa mùi vị, thời gian và trí nhớ được người Hoa người Nhật, trước khi biết đến đồng hồ cơ khí do các nhà truyền giáo, đã biểu thị cách đo thời gian qua cảm nhận các thang độ của mùi hương trầm. Người Bắc kỳ, thời bao cấp, thay vì có…, để bán cho nhà nước 50 kg “thịt lợn hơi”, để rồi được mua “đối lưu” một chiếc đồng hồ “ò ó o… o…”, họ dựa vào các thứ mùi tỏa ra từ hoa lá trong vườn để biết giờ Hoàng đạo… Có lúc nào ta thảng thốt nhận ra những mùi hương được cảm nhận sâu sắc, kèm với từng ký ức “về một thời thiếu nữ say mê” !

Vỏ não của loài có vú vì cứ nở mãi cùng với thời gian nên buộc phải cuộn lại thành nếp để có thể chen chúc nhau trong hộp sọ. Nhưng phải mãi đến não người thì mới có được sự khu biệt hóa các vùng.

Khi các loài khủng long đầu thì như củ sắn nước, thân thì đứng hết ra phía trước ngỏm củ tỏi cả, thì loài có vú nhẹ nhàng rời khỏi đêm trường sửng sốt trước bình minh như một lần Robinson trên hoang đảo. Thị giác của chúng tuy phải nhường bước cho sự hoàn hảo của loài chim, vì loài này không thể ngửi được cái gì khi phải sống quá xa mặt đất, còn loài linh trưởng không có khả năng cảnh báo sớm nên tất cả phải được phát hiện một cách lập tức, rõ ràng.

Áp lực môi trường đã gây nên sự “đột hiện” (emergence) trong mỗi loài cái năng lực nhận biết, khiến chẳng loài nào như các thần trong thế giới thần linh trên đỉnh Olympus, khư khư thái độ kèn cựa vừa như đố kị vừa như ám thị.

Loại tế bào thần kinh hình trụ dài đã giúp vào việc căng mắt để mà nhìn ! Dưới le lói của ánh sáng phản xạ, loại tế bào này đã giúp con thú của loài có vú nhìn thấy được trong đêm, để rồi dưới ánh nắng chói chang của mặt trời nó mở rộng tầm nhìn mà thấy được bức tranh toàn cảnh phía trước. Khi các tế bào hình trụ này được bố trí đều ở vành ngoài của võng mạc để có thể tạo nên một phối cảnh nghệ thuật như ở “Nàng Mona Lisa”, thì Leonardo đã đem lại cho con người cái hình ảnh thị giác tính chất tất cả tức thì… Hai mắt con người do không tập trung được vào một điểm cụ thể có thể mà có được cái nhìn toàn cảnh bởi thu nhận được ở mức tối đa toàn bộ ánh sáng.

Thành tố thứ hai của võng mạc…, ấy là loại tế bào thần kinh hình nón. Chúng tụ tập ở trung tâm mắt nên được gọi là điểm vàng. Điểm vàng chỉ xuất hiện ở em bé sau vài ba tháng tuổi, với tính cách là tiêu điểm của tầm nhìn. Lúc này bé của ta mới nhìn thấy cái chúm chím hồng hồng “khoái khẩu”, vốn một thời… đặc quyền sở hữu của ba, nay quy về trên ngực mẹ nó. Với chim chóc và linh trưởng đây là cái giúp nó chọn ra từ ngổn ngang những dữ liệu thị giác, để hướng vào đối tượng với một thứ màu sắc đặc trưng tươi rói mà nó cần phải được thỏa mãn tại cái nơi vô địa, vô thiên. Và, Leonardo đã triệt để khai thác tình hình này để tạo nên các phong cảnh riêng biệt, không phù hợp với nhau, làm phát sinh cái nghịch lý không gian mà dễ thường mấy người xem tranh chịu nhìn nhận như một hàm ý tăng cường tính chất vĩnh cửu của nụ cười Mona Lisa vẫn còn đầy bí ẩn !

Trong lúc thị giác lâm vào trạng thái hút hồn bởi đối tượng “khoái khẩu”, thì là lúc cái hệ thống cảnh báo của toàn bộ cơ thể như được… “vỗ đít” tăng cường ! Đứa bé lập tức ngằn ngặt bởi miệng em còn đương bị “cả vú”, khi ngờ ngợ rồi nhận ra cái nguy cơ bị ả Osin đang tiến lại gần cũng giống mọi khi, giật nó khỏi cái bình sữa lủng lẳng treo trên người mẹ nó !

Sự chuyên biệt hóa các tế bào thần kinh hình nón trên võng mạc gắn liền với sự phức tạp hóa cấu tạo vỏ não là phát minh vĩ đại của Tạo Hóa ban cho động vật săn mồi. Cây cỏ tuy có rễ nhưng lại không có chân, nên Con Trâu của Nguyễn Văn Bổng cứ thản nhiên gặm cỏ mà không phải âu lo những miếng ngoạm đầy mồm tiếp theo có còn là… rau sạch ? Nhưng con thú săn mồi thì không thể như thế, nó chỉ cần rời mắt khỏi con mồi trong tích tắc…

Điều gì sẽ xảy ra, nếu nó biết bận tâm một chút đến con cái của nó bữa chiều, con mồi kia sẽ ở đâu, nếu không phải là trên những chiếc xe chuyên dụng chạy hàng cho các “nhà hàng đặc sản” người Tàu, mà thực khách đi xe hơi kia mới đúng “trăm phần trăm” Thượng đế !

II.

 Những “thấp thỏm” bộn bề trước miếng ăn, khiến thú có vú phải “di sản” lại cho các thế hệ con cháu chúng sau này chút vốn liếng kỹ năng, nên phải nỗ lực “đánh mùi” làm quen lần lượt với các Nàng Hương để tập nhận biết quá khứ. Và rồi thì cái gì đến, mới đến – một mệnh lệnh mới từ các tế bào hình nón – nó phải hình dung ra nhiều / ít tương lai, như tựa hồ:

“Đời ông đến đời cha đã đánh giặc theo nhau

Càng thương đến đời con, cha càng phải gắng

Dân tộc dám hy sinh cả một thế kỷ tròn để làm nên chiến thắng

Thì không một lứa tuổi nào được một phút chùn chân…”

Cấu trúc hai thùy của bộ não là để đảm trách những chức năng khác nhau. Cervantes đã không lơ là để gã quý tộc tài ba xứ Mancha bị đột quỵ nơi bán cầu não phải, khiến con Roxemante phải buồn bã chạy không tải, trong khi, chỉ trừ có Leonardo là có được cả hai… còn thì hầu hết chỉ thuận được mỗi một tay và thường là tay phải.

Tương tự như vậy, mỗi mắt là hình ảnh đối xứng gương của con mắt còn lại. Nhưng trong mỗi mắt đã có sự phân chia sâu sắc về chức năng và sự đối lập giữa hai tế bào hình trụ và hình nón, tương ứng với sự đối lập giữa hai não bán cầu. Tế bào hình trụ và bán cầu phải cùng có khả năng nhận biết đối tượng ở dạng tổng thể, ngược lại, chúng nhường cho tế bào hình nón và bán cầu não trái quan sát thế giới theo trình tự nối tiếp thời gian.

Sự phân chia rạch ròi các thuộc tính của bán cầu não chỉ xảy ra độc nhất ở người. Sự này đã khiến loài Homo sapien có “hai bộ não” trong cùng một chỗ đội nón bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng… không phải ôtô ! Hai bán cầu não về cơ bản là hai cá nhân độc lập có ý thức, như anh em nhà Kranus: Prometheus, người suy nghĩ bươn lên trước và người em Epimetheus, suy nghĩ sau. Do có khả năng suy nghĩ mà mỗi người đều có đủ năng lực giải quyết vấn đề một cách khác biệt với nhau… Mỗi bán cầu đều có đủ khả năng đáp trả linh hoạt các kích thích đến từ môi trường. Các năng lực phản ứng lại môi trường càng linh hoạt hơn lên thì thực thể sống ấy càng trở nên thông minh, năng lực trí tuệ biểu hiện thành khả năng biết tự điều chỉnh để thích nghi một cách chủ động.

Đối lập không phải lúc nào cũng là đối nghịch, Niels Bohr nói như vậy. Và ông cũng nói là chúng ghét nhau: “đối lập với một phát ngôn đúng, là một phát ngôn sai”,  rồi còn nói, “nhưng đối lập với một chân lý sâu xa, thì là một chân lý sâu xa khác”. Thượng đế khi phú cho loài Homo sapien bộ não được tách ra với hai đơn vị chức năng để tạo nên sự “đột hiện” gấp đôi lần số lượng các phản ứng tiềm tàng, hơn thế, tương tác qua lại một cách thường xuyên giữa hai thùy như cặp song sinh nhà Kranus mà đã tạo nên sự đa dạng các phản ứng tôn vinh vị chúa tể của thế giới thần linh trên đỉnh Olympus.

Chức năng của não phải được chuyên môn hóa để phối hợp đồng thời mọi thông tin trong không gian, còn người anh em bên kia thì tập họp các dữ liệu nhận thức trong trình tự chuỗi. Theo trình tự này, thời gian dự báo như một nhà tiên tri. Để biết cấu tạo cơ thể con người, người ta đã tiến hành phẫu thuật con khỉ. Nhờ vào các kết quả phân tích của khảo cổ học, lịch sử và nhân chủng học…, về xã hội cộng sản nguyên thủy, các vị tổ sư của chủ nghĩa xã hội khoa học đã dự báo về một xã hội vượt lên trên cái trạng thái xã hội hiện thời.

Cũng chừng này của cách nay 2.500 năm trước, mệnh đề “Tôi tư duy vậy tôi tồn tại” của R. Descartes ở dạng tiềm tàng đã như cái đinh thúc “con tuấn mã” Plato: giữa tư tưởng và thực tại chỉ mong manh một sự khác biệt. Bằng những trải nghiệm khác người, Plato “vạm vỡ” đã chiêm nghiệm: Bất kỳ cái gì mà con người ta tưởng tượng ra một cách hợp lý, thì sớm muộn gì cũng trở nên có thể, bởi tổng hợp trí tuệ của con người chính là toàn bộ kho tàng của thực tại.

Cái kho của thực tại chứa vô vàn những kiệngói; là những “gói” năng lượng: E = mc2.

Nếu chịu khó suy nghĩ một chút, dân tộc ta cũng đã góp phần phát minh ra sự bảo toàn năng lượng, thậm chí trước cả Lomonosov nữa kìa ! Phật Hoàng Trần Nhân Tông, trong một bài Kệ – Kệ Tứ sơn: “Nhất thiết pháp bất sinh / nhất thiết pháp bất diệt / nhược năng nhi thị giả / chư hữu Phật nhỡn tiền”!

Bất sinh / bất diệt là tự nhiên. Tự nhiên là vừa thế này lẫn thế khác: có cùng có, không cùng không, tư tưởng căn cơ của Nhà Phật có thể đóng khung công thức “nhất thiết pháp, nhân duyên sinh”, bằng thuyết Einstein: Năng lượng toàn phần bằng tích khối lượng với bình phương vận tốc ánh sáng.

Cái chết của ngôi “sao kềnh” đã làm sửng sốt các nhà khoa học về các thiên thể. Phát kiến ra sự dịch sang phía đỏ của quang phổ các thiên hà, Edwin Hobble đã đảo lộn các tín niệm của vật lý học cổ điển về vũ trụ vĩnh cửu, bất biến. Thiên văn học hối hả ghép lại tất cả các sự kiện trong cuộc đời của mội ngôi sao thành hệ thống. Kết quả phân tích quang phổ về các dải màu khác nhau và chen lấn lên nhau đã củng cố quan điểm của các nhà khoa học Mỹ về cấu tạo vật lý và hóa học giống nhau giữa tầng Manty và 20 kg đất đá của Mặt trăng, do Apolon “xâm lược” được đem về. Té ra, các vì sao, mặt trời, mặt trăng đều được tạo ra từ các nguyên tử đang hiện hữu cả trên Trái đất này. Bằng cách “ăn theo” chứ không phải “leo lẻo”, Trang Tử nằm mơ “Trang Chu hóa bướm hay bướm hóa Trang Chu”, khiến người theo chủ nghĩa đức hạnh không chịu đựng nổi, rồi cứ nãy cái bực mình: sao không mơ hóa ra châu chấu !

Ừ, mà Trang Chu sao không nằm mơ mình hóa ra ong, ong hóa ra Trang Chu, Trang Chu … hóa như thế kia… chả hóa ra… hám gái (!).

Sao không ! Lòng vả mà chả như lòng sung ! Việc gì mà phải giả trá !!! Chị Hằng, nguồn cảm hứng làm bất tận thi nhân Trung Hoa, đã làm Kant cứ thế mà suy ra nguyên nhân của thủy triều là do lực hấp dẫn giữa Chị Ta và Trái Đất.

Thuyết Vạn hóa Lão – Trang, chỉ một đêm, trong chiêm bao của Trang Tử, “tứ trụ” của sự sống: hydrogen, carbon, oxygen, nitre đã vung vãi khắp dải Ngân Hà. Khác với “ba voi không được bát nước sáo”, hydrogen, carbon, oxygen một khi đã kết hợp lại với nhau, thì Tạo Hóa, chưa một lần “kết hợp ba nhà”… vẫn có được cái vị của đường ngon ngót ngọt!

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.