Chủ nghĩa Marx và đấu tranh giai cấp

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Marx and Foucault-2

K. Marx (1818–1883) & M. Foucault (1926 – 1984)

Chu Mộng Long – Marx cho rằng, Lịch sử như là sự phát triển từ hệ thống kinh tế và phương thức sản xuất này đến hệ thống và phương thức kế tiếp, với toàn bộ xã hội và văn hóa được định đoạt bởi những chi tiết của hạ tầng kinh tế. Các phân tích lịch sử dựa trên chủ nghĩa duy vật về kinh tế đã làm cho Marx tin rằng mọi áp đặt chủ quan đều không thể làm thay đổi lịch sử. Lịch sử là tự nhiên. Động lực của sự vận động tự nhiên là mâu thuẫn. Động lực của sự vận động xã hội là đấu tranh giai cấp.

Đó cũng là lí do Marx từng phê phán chính quyền Phổ đương thời đã “nhà nước hóa Hegel” (thay thế cho sự “nhà nước hóa Kinh Thánh” trước đó) để đi đến ảo tưởng về sự bắt buộc tuân phục ý chí quyền lực, nhưng ông cũng không ngờ rằng đến lượt các chính quyền theo Marx cũng đã nhà nước hóa Marx. Quyền lực áp đặt chân lý với đủ các loại nhân danh mà sinh thời Marx từng kêu lên: “Trời đánh tôi đi nếu mà tôi biết. Đủ các loại người có những ý tưởng lạ lùng đã tuyên bố rằng họ là đệ tử của tôi”.

Rốt cuộc, lịch sử là cái gì vậy? M. Foucault, từng là người Marxist, cho rằng, là các diễn ngôn (discourse). Lịch sử xã hội khác với lịch sử tự nhiên ở chỗ nó hình thành và vận động từ sự tương tác của các diễn ngôn. Con người là chủ thể của ngôn ngữ nhưng đến lượt nó trở thành công cụ của ngôn ngữ. Diễn ngôn này tác động lên diễn ngôn khác và sai khiến con người hành động. Điên loạn, bạo lực đều là sản phẩm của diễn ngôn. Quyền lực, sự đề kháng và phản kháng quyền lực cũng là sản phẩm của diễn ngôn.

Sự tuân phục không làm nên lịch sử. Nhưng sự phản kháng bằng bạo lực cũng chỉ thay thế hình thức bạo lực này sang hình thức bạo lực khác. Cả hai đều là sản phẩm của sự ngu dốt và nô dịch. Con người tự do theo nghĩa văn minh là sản phẩm của diễn ngôn của chính mình chứ không là công cụ của diễn ngôn của kẻ khác. Nó phản kháng vai trò công cụ cho kẻ khác để nó chỉ là công cụ của chính nó. Và như thế, tri thức mới ra đời như một sự đảm bảo cho tiến trình vận động của lịch sử.

Triết học chân chính tìm cách giải phóng con người chứ không bao giờ biến con người thành công cụ bởi sự điều khiển của quyền lực. Kant phủ nhận quyền lực siêu hình và Nietzsche tuyên bố Thượng đế đã chết… Con người được giải phóng bằng nỗ lực đi tìm tự do của nó trong cuộc phản kháng không mệt mỏi với quyền lực.

“Bạn thấy đấy, nếu không có sự phản kháng sẽ không có những quan hệ quyền lực, bởi vì nó đơn giản chỉ là vấn đề của sự tuân phục. Vì thế, sự phản kháng có trước, và sự phản kháng duy trì thế thượng phong đối với những lực lượng của một tiến trình; những mối quan hệ quyền lực bị bắt buộc phải thay đổi theo sự phản kháng” (M. Foucault – Chứng điên và văn minh).

Quay lại chủ nghĩa Marx và vấn đề đấu tranh giai cấp trong tính lịch sử và tính nhân loại của nó. Việc sùng tín chủ nghĩa Marx bằng những lời tụng ca đưa Marx lên đến đỉnh cao trí tuệ Thượng đế chắc chắn không làm cho Marx vĩ đại hơn; ngược lại hạ bệ bằng những lời phỉ báng cho rằng Marx ngu cũng không làm cho người ta khôn hơn Marx. Chủ nghĩa Marx nằm đúng vị trí lịch sử của nó như lịch sử đã sắp đặt nó. Nhân loại tôn trọng nó như nó từng được tôn trọng để làm nên lịch sử!

Bài viết sau của giảng viên triết học Nguyễn Thanh Hải thể hiện quan điểm riêng của tác giả về chủ nghĩa Marx đối với vấn đề đấu tranh giai cấp – một vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất từ sau sự khủng hoảng của đại tự sự được xem là “vô địch” này.

 

CŨNG LÀ CÁCH NHÌN VỀ TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

                                                                                                  Nguyễn Thanh Hải

Quy chủ nghĩa Marx vào lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp, rồi gán cho nó cái tư tưởng chủ yếu bạo lực, nếu không phải là sự cố tình xuyên tạc Marx thì cũng là sự thiếu hiểu biết về chủ nghĩa do ông này sáng lập nên. Sự thực về vấn đề này được Marx thể hiện trong thư đề ngày 5-3-1852, gửi Vaidmaie: “Điều mới mẻ mà tôi đã làm là đã chứng minh rằng: 1) sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn nhất định của sự phát triển sản xuất; 2) đấu tranh giai cấp tất nhiên đưa đến chuyên chính vô sản; 3) bản thân sự chuyên chính này chỉ là bước quá độ để tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp” (Marx. x… t28, tr 661, 662).

Nội dung cơ bản ở đây là Marx đặt toàn bộ lý luận về giai cấp của các nhà tư tưởng trước ông trên cơ sở hiện thực.

 Trên cái nền ấy, Lenine xây dựng khái niệm giai cấp và định nghĩa giai cấp với việc chỉ ra 4 đặc trưng khác biệt để chung quy lại: “Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định” (x…t39. tr.17, 18).

 Điều này là đủ thấy người ta đã cố gắn lên ngực Marx cái “huân chương vẻ vang” như từng gắn cho nhà “thống soái tư tưởng” để mà lôi kéo những nông dân thủ cựu “khoai tây” làm “nhà hộ sinh” và dùng đạn dược làm “mồi nhử”: “Cu ơi, ra mà ăn kẹo…!”.

Thực tế đã và sẽ còn cho thấy, địa vị khác nhau giữa giới chủ và thợ xuất hiện không do gì khác hơn là kết quả của việc chiếm đoạt những điều kiện phát triển lao động…

Việc chiếm đoạt lao động giữa các tập đoàn người, do chỗ khác nhau về địa vị trong một chế độ kinh tế xã hội đã làm cho lao động trở thành lao động bị cướp đoạt. Hành vi bắt buộc người lao động lệ thuộc vào lao động nô dịch dưới tất cả mọi hình thức của nó tức là thực hiện hành vi bạo lực. Đó là khi người dựa trên cơ sở người đi nô dịch đã có sẵn những điều kiện phát triển lao động và những thứ này là do sản xuất tạo nên. Đây là kết quả đấu tranh của quần chúng nhưng lại được trao cho những người nhân danh xã hội được tưởng tượng như là những người đầy tớ có đầy đủ trách nhiệm. Và dường như đã không thể không diễn ra… việc chạy một chức công đã xảy ra với giá “không dưới 100 triệu đồng” ở Hà Nội (VTV1. Thời sự,19 giờ 01/01/2013) !

Lao động bị lệ thuộc, lao động nô dịch là lao động bạo lực. Chế độ xã hội mà trong đó tập đoàn người có tư liệu sản xuất thống trị tập đoàn người khác, không ra đời do cướp bóc, bạo lực, mà là kết quả của phát triển sản xuất. “Bạo lực có thể làm thay đổi kẻ sở hữu tài sản nhưng nó không thể đẻ ra chế độ tư hữu tài sản (…) bạo lực không thể làm ra tiền được, mà nhiều lắm cũng chỉ có thể chiếm đọat được số đã làm ra thôi”. “Vậy xét cho cùng thì tiền phải do sản xuất kinh tế làm ra; vậy một lần nữa, bạo lực lại do tình hình kinh tế quyết định, tình hình kinh tế cung cấp cho bạo lực những phương tiện tạo ra và duy trì những công cụ bạo lực” (Engels. x… t20, tr227, 228, 229 và 235).

Tinh thần của chủ nghĩa Marx-Lenine về bạo lực: dưới bất cứ hình thức nào từ hành vi cướp bóc, chiếm đoạt của từng cá nhân riêng biệt, đến sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, tập đoàn người này chiếm đoạt lao động của tập đoàn người khác, từ hình thức xung đột sơ khai nhất cho đến các cuộc chiến tranh hiện đại, đều thể hiện ra là kết quả, đều thể hiện ra là sự biểu hiện ra bên ngoài của sự phụ thuộc vào phát triển sản xuất.

Tư tưởng của chủ nghĩa Marx về bạo lực là để minh bạch hóa con đường hình thành giai cấp, điều mà các nhà tư tưởng trước Marx chẳng chịu nghĩ tới…

Tính đa dạng trong xã hội được phân biệt bởi những đặc trưng khác nhau như giới tính, nghề nghiệp, chủng tộc, dân tộc… Nhưng những khác biệt ấy tự nó không tạo ra sự đối lập về mặt xã hội phân hóa thành giai cấp. Chỉ có những tập đoàn người với những khác biệt căn bản về lợi ích mới tạo thành những giai cấp kèm theo những xung đột xã hội mang tính chất đối kháng. Mà, “Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất” (Marx). Xã hội có giai cấp chỉ mới khoảng 3.000 năm… Sự phân chia xã hội thành giai cấp chả hóa ra không phải trước hết là do nguyên nhân kinh tế (?!).

Trong xã hội nguyên thuỷ, trình độ thô sơ của công cụ lao động đã đưa lại một năng suất lao động rất thấp, sản phẩm làm ra chỉ đủ duy trì đời sống người nguyên thuỷ trong điều kiện hết sức ngặt nghèo. Con người, để sống, chỉ còn cách phải nương tựa vào nhau theo từng bầy lang thang thưa thớt… “Công cuộc kiếm ăn” lệ thuộc vào những sản vật tự nhiên có sẵn với điều kiện tùy thuộc vào khả năng có thể kiếm được. Giai cấp, vì tình hình này mà đã chưa thể “nhú” lên.

Khi công cụ lao động bằng kim loại được tìm ra và trở thành phổ biến thay thế công cụ thô sơ, năng suất lao động nhờ đó tăng lên đáng kể, phân công lao động xã hội từng bước hình thành, sản phẩm thặng dư: lượng sản phẩn được tạo ra nhiều hơn số tuyệt đối cần thiết cho viêc tiêu dùng ngay đối với người lao động, xuất hiện, đã làm nảy sinh khả năng khách quan của việc chiếm đoạt cái thứ sản phẩm này.

Một số thành viên của công xã, trước hết là những kẻ có chức quyền, đứng đầu các thị tộc và bộ lạc đã lợi dụng cương vị của mình mà chiếm đoạt những sản phẩm thặng dự. Chế độ của riêng ra đời, bất bình đẳng về kinh tế nảy sinh trong nội bộ công xã là cơ sở của sự xuất hiện giai cấp.

Do có lợi ích chung mà công xã đã trao cho những cá nhân nhất định giữ gìn, dưới sự giám sát của toàn bộ cộng đồng cùng với đó là những chức năng tập quán và tín ngưỡng. Những cá nhân này đã không mất tiền mua mà có được một toàn quyền nào đó và tiêu biểu cho những mầm mống của quyền lực nhà nước. Dần dà sản xuất phát triển lên đến mức dân số cũng gia tăng… Sự tưng bừng dân số đã “gầy” nên tình hình: thứ này là lợi ích chung; thứ kia là lợi ích đối lập của các cộng đồng chẳng hạn, khai thác rừng là hạnh phúc của các “cộng đồng rừng rú” thì chính nó lại là tai họa của các “cộng đồng tôm cá”. Sự tập hợp các công đồng đã tạo ra những chỉnh thể lớn hơn, do đó mà sinh ra những hình thái phân công lao động và đưa lại sự hình thành nên một cơ quan bảo vệ lợi ích chung nhằm phản ứng lại sự đối lập của lợi ích riêng. Nhưng rồi cái gì đến đã đến… Như chúng ta, chua xót thay, đều được thấy cả: cái cơ quan do sản xuất sinh ra đã ngày càng thoát ly sản xuất nhưng lại đã tiêu dùng phần lớn những sản phẩm của sản xuất, đặc biệt khi sự xung đột giữa các nhóm tăng lên.

Bởi nó, để là nó, nó đương nhiên phải “… rào cây ấy”!

Gậy ông, thế là nện trúng cái lưng còm của ông!

Nhưng rồi cứ thế mà “chủ nghĩa hình thức” suy ra một cách hình thức, thì nhất định ý đồ đưa chủ nghĩa Marx đi vào ngõ cụt, sẽ biến được chủ nghĩa này trở thành lý luận không phải là để giải phóng xã hội và con người.

Những thành viên nhất định trên kia, cũng tựa hồ như các ông bố… “yamaha”. Khi vợ con đã đặc biệt tin tưởng mà trao cho chiếc thẻ ATM, còn thì chỉ giành cho mình quyền nhận tin từ những cuộc tin nhắn qua điện thoại di động, thì quyền lực thực đã được bảo hộ bằng niềm tin tôn giáo. Một thứ quyền lực ảo song hành như là một thứ xa xỉ nhằm biện minh cho chủ nghĩa quan liêu lộn ngược. Với công việc bộn bề khiến người ta cũng phải đến lúc chẳng thèm đọc tin, mà vị tất đã phải như thế một khi đã tin tưởng. Những ông bố ban ngày còn thảng hoặc đi làm, thi thoảng lưu ý vợ con ý thức trách nhiệm và thái độ đối với lao động, còn thì chiều lại là tập trung ten-nít với cầu lông, nhưng không có lông vì vợt… lủng. Để khỏi phí phạm thời gian và xăng nhớt do đi lại, họ túm tụm lại tại một nơi “hiu hắt” đèn vàng: cái gì đến thì cũng… qua!

− Chúng mày có câm hết cái mồm lại hay không ? Ông thì đập cho chết hết bây giờ… Đó là câu nói đầu tiên, lúc quá khuya ông bố trở lại nhà!

 Sự sa ngã của chất phác và đạo đức đã làm tối mắt kẻ có chức quyền. Các biện pháp làm gia tăng của cải cá nhân bất chấp đạo đức và chất phác được triệt để khai thác mới là nguyên nhân trực tiếp đưa lại tình trạng cướp bóc và suy đồi.

Tuy nhiên, điều trên đây không có ý phủ quyết một vài thành viên nào đó của cộng đồng do gặp được ưu thế nào đó trong sản xuất đã tạo nên được sự vượt trội về năng suất mà phất lên trở thành thành giàu có. Ấy là, sự xuất hiện khả năng lao động mới đã làm nảy sinh nhu cầu vật chất và cả nhu cầu tinh thần mới; phân công lao động tự nhiên khiến cá nhân dần nhận rõ hơn năng lực lao động, do đó lao động dưới hình thức gia đình mới tỏ ra hiệu quả.

Sự chênh lệch về năng lực sản xuất đưa đến tính vượt trội về năng suất đối với những gia đình có dồi dào sức lao động là đàn ông, khi lao động còn chủ yếu là lao động cơ bắp, chẳng hạn. Sự giàu có về của cải trong lao động đưa tới chế độ của riêng hình thành. Nhưng chỉ khi sự làm giàu bất chấp được trở thành mục tiêu tuyệt đối của sản xuất mới khiến lao động trở thành lao động bị chiếm đoạt. Chẳng hạn, tình hình có những thành viên nào đó trong cộng đồng gặp rủi ro trong cuộc sống mà trở nên khánh kiệt buộc phải trở thành lao động lệ thuộc hoặc phải trở lại thời kỳ kiếm ăn lang thang như thân phận gã Chí Phèo.

 Do có sự hình thành của cải thặng dư mà tù binh trong chiến tranh đã không bị giết đi như trước đó. Chúng đã được giữ lại làm lao động trong các gia đình công xã (những gia đình giàu có và người có địa vị xã hội), là tiền thân của giai cấp nô lệ. Và chiến tranh vốn là hiện tượng sinh hoạt bình thường của các cộng đồng thị tộc giờ trở nên là bản chất của xã hội đã làm sản sinh ra giới chủ, trở thành hình thái bổ sung thường xuyên cho việc bắt con người lệ thuộc vào lao động nô dịch.

Xã hội có giai cấp nào cũng tồn tại một tầng lớp xã hội có vai trò quan trọng về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, đó là tầng lớp trí thức. Mà tầng lớp này thì lại chỉ đáng là cục c…, trong lý thuyết của ông Mao. Nếu “không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản” (Lenine), thì bạo lực đúng là lễ cưới của hư đốn và dốt nát!

 Chứng tỏ, chế độ của riêng là nguyên nhân quyết định trực tiếp sự ra đời giai cấp. Và sự tồn tại các giai cấp, gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa. Và nếu chỉ là như thế thôi thì chủ nghĩa xã hội sẽ là vĩnh viễn không bao giờ. Marx đề lên rất cao tinh thần trong sáng nghĩa hiệp của người cộng sản: đấu tranh tước đoạt lại kẻ từng đi tước đoạt là đạo đức cao nhất của người tự do.

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.