Đặc sắc ngôn ngữ và nhạc điệu trong tập Góc sân và khoảng trời

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

1. Cả ngàn năm trung cổ, văn học nhân loại nói chung và văn học Việt Nam nói riêng ở trạng thái lớn nhỏ, già trẻ bất phân, trẻ em chưa có bộ phận văn học viết riêng cho mình. Từ khi xuất hiện loại Sách hồng của văn chương Tự lực văn đoàn cho đến nay, ta đã có một  nền văn học thiếu nhi tương đối dày dặn với các tên tuổi như Thạch Lam, Khái Hưng, Tô Hoài, Võ Quảng, Phạm Hổ, Xuân Quỳnh… Trong số những tên tuổi lớn ấy, Trần Đăng Khoa với tập thơ thời nhỏ – tập Góc sân và khoảng trời – đã chiếm một vị trí xứng đáng trong bộ phận văn học cho thiếu nhi của dân tộc.

            Thơ Khoa hay không phải ở nội dung phản ánh hiện thực. Dù giới hạn một cách khiêm tốn trong góc sân và khoảng trời của riêng Khoa, nhưng tập thơ đã dàn trải ra đủ các loại đề tài, từ chuyện nhỏ đến chuyện  lớn như đồ vật, loài vật, người thân, cho đến cuộc sống sản xuất và đấu tranh trong những năm chống Mỹ, cả tình cảm đối với Đảng và Bác Hồ vĩ đại. Không có gì chắc chắn để nói rằng đề tài rộng thơ mới có tầm vóc lớn. Sức mạnh của thơ Khoa, nói như Xuân Diệu: “chính tâm hồn bên trong của con người qui tụ cảnh vật bên ngoài vào quanh một cái trục, biến vật vô tri thành ra xúc cảm, tình cảm”[1]. Cần phải nói thêm rằng, cái hay của thơ Khoa nằm ở khả năng trực giác đến kỳ lạ được biểu đạt qua một thế giới ngôn từ lung linh, sống động và nhạc điệu đa âm, đa sắc.

            2.1.  Trần Đăng Khoa thuộc số hiếm những trẻ thơ làm thơ biết trọng chữ. Trừ đôi lúc ứng khẩu theo cảm tính, Khoa ý thức rất đầy đủ khả năng biểu đạt của ngôn từ . Khi đăng bài  Thôn xóm vào mùa, người biên tập sửa câu thơ: Thóc mặc áo vàng óng/ thở hí hóp trên sân  thành: Thóc mặc áo vàng óng/ nhảy nhót mãi trên sân. Khoa thắc mắc : “Sao lại chữa của em? Hết ngày mùa thì làm sao thóc nhảy nhót được mãi. Em nói thở hí hóp kia mà!”[2]. Đúng là “hí hóp” mới bộc lộ được cái thần hồn của hạt thóc vừa được tuốt trên sân. Sự sống còn đang động cựa trước khi vào cõi yên tĩnh trong nhà kho hợp tác. Người biên tập thời ấy còn ngớ ngẩn hơn khi sữa chữ trong bài Hạt gạo làng ta. Câu thơ: Có lời mẹ hát/ Ngọt bùi đắng cay đối lập ở cấu tứ: trong cái hạt gạo của bữa ăn hàng ngày như có âm vang miên man của lời hát ru dân gian nửa vui, nửa buồn, nửa ngọt ngào, nửa cay đắng mà người mẹ thân yêu vẫn hát cho Khoa nghe: Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần . Thế mà lại bị sửa: Có lời mẹ hát/ Ngọt bùi hôm nay. Ý thơ trở thành hời hợt nông cạn, đành là do sự chi phối của ý đồ chính trị hiện thời nhưng không khéo thành sự vô ơn, thiếu hiểu biết về công việc đồng áng. Khoa nói : “đó là câu thơ của bác biên tập, không phải thơ tôi”[2]. Với ý thức về ngôn từ thơ như thế, phần lớn trong tập thơ, câu chữ nào Khoa dùng cũng có một sức nặng ở tầm  văn hoá thẩm mỹ cao.

            2.1.1.   Ấn tượng nhất ở thơ Khoa là nghệ thuật sử dụng và sáng tạo từ láy. Thơ cho thiếu nhi nói chung, từ láy xuất hiện nhiều làm cho thế giới thơ trở nên lung linh sống động. Nhưng dùng từ láy đến đậm đặc, phong phú và đầy sáng tạo có lẽ Khoa được xếp vào hàng số một. Trong tập Góc sân và khoảng trời, có tới 306 từ /105 bài (so với cả tập Những bài thơ em yêu  của những nhà thơ lớn tuổi chỉ có 159 từ/100 bài [3]). Điều đáng lưu ý là số lượng từ láy ấy không hề lặp lại.

            Từ láy trong thơ Khoa có khả năng tượng hình, tượng thanh sống động, ấn tượng: Tiếng gà/ Khát khát/ Tiếng chó/ Khau khau/ Tiếng gọi nhau/ Ơi ới… Cả đất trời buổi sáng như rung lên nhịp rung của sự sống mới bởi hàng loạt các từ láy tượng thanh liên hoàn: À uôm… ếch nói ao chuôm/ Rì rào gió nói trong vườn rộng rênh/ Âu âu chó nói đêm thanh/ Tẻ te gà nói  sáng banh ra rồi/ Vi vu gió nói mây trôi/ Thào thào trời nói xa vời mặt trăng. Giá như thiếu các từ láy “à uôm”, “rì rào”, “âu âu”, “tẻ te”, “vi vu”, “thào thào”, thì dù có viết: ếch nói, gió nói, chó nói, gà nói, trời nói… không gian đất trời vẫn cứ tĩnh tại, vô hồn. Các từ láy ấy không chỉ diễn tả chính xác đặc điểm tự nhiên của từng loài vật, hiện tượng mà còn bộc lộ cái hồn của chúng. Vạn vật đang nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ  huyền bí mà Khoa nghe được bằng trực giác hồn nhiên của mình.

            2.1.2   Thơ Khoa đi tìm cái linh hồn ảo diệu của thiên nhiên, tạo vật qua sự sống của chính con người. Cho nên, ngôn ngữ thơ bao giờ cũng có một độ mở liên tưởng với các hình thức tu từ: nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, tượng trưng… rất bất ngờ.

            Nhiều bài nhân cách hoá toàn phần như Mưa, Đánh thức trầu, Buổi sáng nhà em, Đám ma bác Giun,… Vạn vật được nhìn qua con mắt tinh tế của sinh hoạt làng quê, tâm lý đời thường: Mụ gà cục tát như điên. Làm thằng gà trống huyên thuyên một hồi, của phong tục tập quán: Đám ma đi đến là dài. Qua những vườn chuối vườn khoai vườn cà… Có những hình ảnh xuất thần, ngộ nghĩnh, dễ thương: Hàng bưởi/ Đu đưa/ bế lũ con/ Đầu tròn trọc lóc… Hếch cái mũi trâu cười/ Nhe cả hàm răng sún… Có những nhân hoá đạt đến mức trí tuệ, kết tinh thành những biểu trưng: Đứng canh trời đất bao la/ Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi, … Ông trời mặc áo giáp đen/ Ra trận…, Ao trường vẫn nở hoa sen/ Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu… Giữa người và vật cứ như có một sợi dây vô hình trong mối tương giao xúc cảm. Cây dừa không còn là dừa nữa mà mang vóc dáng người lính canh giữ cho đất trời bình yên. Mưa đâu chỉ là mưa mà là huyền thoại về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc. Chú dế mèn bên bờ tre vuốt râu biểu đạt đúng cái thần thái ung dung đĩnh đạc của con người Việt Nam trong chiến tranh.

            So sánh trong thơ Trần Đăng Khoa khá đặc sắc làm nhiều nhà thơ lớn phải thán phục. Xuân Diệu rất cảm khái với hình ảnh này: Trăng ơi từ đâu đến/ Hay biển xanh diệu kỳ/ Trăng tròn như mắt cá/ Không bao giờ chớp mi. Nhà thơ từng viết về biển và trăng rất hay này phải thừa nhận rằng Khoa đã chạm đến tận cùng cái huyền bí của tự nhiên. Câu thơ: Ngoài thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng được nhiều người ca tụng ở khả năng thẩm âm “siêu phàm” của Khoa. Thực ra, chẳng có gì siêu phàm trong cái âm thanh gọi là “rất mỏng” ấy. Cách so sánh này hay ở chỗ, dù là liên tưởng đồng loại (rơi mỏng… như rơi nghiêng…) nhưng vẫn có một độ lệch nhất định về mặt tu từ : chuyển hoá âm thanh sang hình dáng trong tưởng tượng, lấy hình dáng “mỏng”, “nghiêng” của chiếc lá rơi để gợi tả âm thanh. Nó là thứ âm thanh mơ hồ, âm thanh trong cõi vô thanh. Không phải nghe bằng thính giác nữa mà “thấy” qua “con mắt của trái tim”. Nhà thơ lắng nghe lòng mình qua một thứ âm thanh vọng lại từ trong ký ức sâu thẳm. Cách so sánh này lạ, ít thấy ở thi ca truyền thống.

            Trần Đăng Khoa có những ẩn dụ bất ngờ: Nét chữ chênh vênh nắng gió. Chữ cũng động cựa như núi đồi trắc trở. Hơn nữa, đó còn là cái “chênh vênh” trong nỗi nhớ nhung khắc khoải của người anh trong nắng gió nơi đất khách quê người. Xem chữ trong thư mà thấy cả một không  gian của nỗi nhớ nhung, không gian viễn cách. Những ẩn dụ này đã chuyển sang nghĩa tượng trưng: Ông trời/ Mặc áo giáp đen/ Ra trận,…  Nền trời rừng rực ráng treo/ Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay. Xuất hiện hình ảnh của Thánh Gióng trong huyền thoại qua một bức tranh thiên nhiên hoành tráng. Bức tranh bình minh trên biển  cả được Khoa chấm phá vài nét có vẻ ngẫu nhiên nhưng lại tạo ra sự liên tưởng kỳ thú: Không gian / Phơi bụng cá/ Phương Đông/ Xoè hồng… . Biển như con cá khổng lồ ưỡn bụng đón bình minh. Không biết Khoa có nghĩ đến chàng Long Vương đón Nữ Thần Mặt Trời không? Một cảnh tượng hùng vỹ mang vẻ đẹp nguyên sơ của huyền thoại. Trực giác trong thơ Khoa phải chăng có nguồn gốc từ trong những mẫu thần thoại xa xăm. Sự xuất thần của trạng thái vô thức nhiều khi có khả năng sản sinh ngôn ngữ giàu có hơn là sự nỗ lực của ý thức.

            2.2.   Nói đến thơ Khoa không thể không nói đến đặc sắc của nhạc điệu. Nhà thơ Phạm Hổ có nhận xét, thơ Trần Đăng Khoa với tập Góc sân và khoảng trời “có sự phong phú trong nhạc điệu, mỗi bài thơ, có một nhạc điệu riêng, âm sắc riêng”[4]. Nhạc điệu là cấp độ siêu ngôn ngữ, thế giới âm thanh của ký hiệu ngôn từ. Nhạc điệu góp phần tạo hình, tạo nghĩa cho tác phẩm thơ.

            Nhạc điệu có cơ sở từ cấu trúc của thể thơ. Ấn tượng nhất là thể thơ nhịp ngắn 2, 3 hoặc 4, 5 chữ. So với toàn tập, Khoa dùng lối thơ này không nhiều (24/105 bài) nhưng bài nào cùng thuộc hàng xuất sắc. Âm điệu réo rắt, rộn ràng của lối thơ ấy như ảnh hưởng từ những khúc đồng dao trong trò chơi tuổi nhỏ của Khoa. Nhiều nhất và thành công nhất là thể lục  bát (46/105 bài). Âm điệu thơ miên man, lắng sâu. Những lời hát ru dân gian có lẽ đã thấm vào máu  thịt của Khoa từ thuở lọt lòng. Các giai điệu truyền thống chính là cái nôi tạo nên một thế giới âm thanh giàu tiết tấu của tập  “Góc sân và khoảng trời”.

            2.2.1   Nhạc điệu trong thơ Khoa không chỉ là giai điệu của tâm hồn mà còn có khả năng tạo hình, tạo nghĩa tinh tế. Bài Mưa là một kiệt tác về âm thanh. Âm hưởng chung của bài thơ vừa mang cái hồn nhiên, khoẻ khoắn của đồng dao, vừa có tiết tấu khác hẳn. Nó phá vỡ mọi cấu trúc đơn điệu của đồng dao, mở ra một thế giới thanh âm phức hợp nhiều bè, khi trầm khi bổng, lúc nhặt lúc khoan, lúc mạnh lúc nhẹ, khi tắt khi vang. Bản nhạc của cơn mưa được phân làm hai đoản khúc: “Sắp mưa” và “Mưa”. Đoản khúc một, cơn giông kéo đến, giai điệu âm thanh vừa nhịp nhàng vừa hối hả. Có cái nhịp nhàng khoan thai của nhịp hai mô tả những tín hiệu chuyển đổi đầu tiên của thời tiết: “Mối trẻ/ Bay cao/ Mối già/ Bay thấp…” Có cái hối hả dồn dập của những nhịp ba, nhịp bốn đan xen với nhịp một, nhịp hai biểu đạt cơn giông ập đến vội vàng: Gà con/ Rối rít tìm nơi/ Ẩn nấp/ Ông trời/ Mặc áo giáp đen/ Ra trận/ Muôn nghìn cây mía/ Múa gươm/ Kiến/ Hành quân/ Đầy đường/ Lá khô/ Gió cuốn/ Bụi bay/ Cuồn cuộn/ Cỏ gà rung tai/ Nghe/ Bụi tre/ Tần ngần/ Gỡ tóc/ Hàng bưởi/ Đu đưa/ Bế lũ con/ Đầu tròn/ Trọc lóc/ Chớp/ Rạch ngang trời/ Khô khốc/ Sấm/ Ghé xuống sân/ Khanh khách/ Cười… Lưu ý các câu thơ nhịp một : “Kiến”/ “Nghe”/ “Chớp”/ “Sấm”/ “Cười”… làm giãn nhịp thơ, hơi thơ như sững lại, một thoáng ngỡ  ngàng trước những biến đổi  bất ngờ của cơn giông. Đoản khúc hai, cơn mưa ập  đến, giai điệu âm thanh nhanh hơn,  vang hơn. Hai chữ “Mưa”, “Mưa” rơi thành hai nhịp một. Mưa nặng hạt. Tiếp theo là câu thơ năm chữ: Ù ù như xay lúa, nhịp năm, mưa xoáy trong cơn gió, ào ạt trong không gian. Không phải là cơn mưa mùa đông, mưa dầm, đều hạt như câu thơ của Tố Hữu: Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên mà là cơn giông bất chợt cuối mùa hè. Giai điệu rất bất thường: Lộp bộp/ Lộp bộp/ Rơi/  Rơi/. Đất trời/ Mù trắng nước/ Mưa chéo mặt sânSủi bọt… Bài thơ phá vỡ toàn bộ luật bằng trắc, vần điệu của thơ cách luật (mà chủ yếu dùng vần lưng rất linh hoạt của thơ ca dân gian), vừa có hài âm vừa có nghịch âm, rất tự do phóng khoáng. Độ cao: vừa trầm vừa bổng, Âm sắc: vừa tắt vừa vang, vừa trong vừa đục. Cường độ, trường độ: lúc nhanh lúc chậm, lúc mạnh lúc nhẹ, lúc nhặt lúc khoan. Toàn bộ tiết tấu của bài thơ  cứ như một bản giao hưởng nhiều bè, tạo hình một cách ấn tượng cơn giông đầu mùa. Người đọc nghe cả  tiếng nói phức điệu của đất trời qua âm thanh của gió, lốc,  xoáy, tạt, rơi, sấm, chớp… trong cái huyền bí của vũ trụ. Âm điệu của cơn mưa còn là bản giao hưởng hùng tráng của những huyền thoại về chiến tranh: Muôn nghìn cây mía/ Múa gươm/. Kiến/ Hành quân/ Đầy đường… Ông trời/ Mặc aó giáp đen/ Ra trận và cả sức mạnh của con người Việt Nam: Bố em đi cày về/ Đội sấm/ Đội chớp/ Đội cả trời mưa…

            Tiếng trống làng là khúc nhạc chào buổi sớm mai. Mở đầu bằng nốt nhạc trầm hùng : Tùng, tùng, tùng của tiếng trống. Nhưng nổi bật giữa những nốt đệm trầm hùng ấy là những âm thanh bay bổng vút lên từ những thanh trắc và thanh không: Tiếng trống hát/ Âm vang… Tiếng gà/ Khát khát./ Tiếng chó/ Khau khau/. Tiếng gọi nhau/ Ơi ới/… Hay nhất vẫn là đoạn mà bề mặt ngôn từ không có một âm thanh thực nào, chỉ  có không gian: Không gian/ Phơi bụng cá/ Phương Đông/ Xoè hồng/ Nan quạt… Hàng loạt các âm “ông” làm cho người đọc cảm thấy không gian như được uốn cong lên, phình ra để chứa đựng một sự sống viên mãn tràn trề. Hai chữ “xoè hồng” với âm điệu rất hay gợi lên cái độ mở bất ngờ của chiếc quạt- ánh sáng mặt trời toả ra từ đường biên của biển  cả.

            2.2.2.   Viết theo âm điệu lục bát, Khoa có những bài thơ, câu thơ  xuất thần.  Hoa cau  là bài thơ hay về nhạc điệu:

Nửa  đêm nghe ếch học bài

       Lưa thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây

Nghe trời trở gió heo may

Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau

 Hai cặp lục bát thật êm, thật nhẹ nhàng, như cái hơi thở của mùa thu. Cặp lục bát mở đầu là một hợp âm mà âm chủ là thanh bằng, chỉ có hai âm át trắc xen giữa: “ếch”, “hạt”. Hai thứ âm thanh nổi lên: tiếng ếch và hạt mưa. Thanh bằng nhiều, giai điệu trầm như tiếng ếch lào rào trong đêm. Ba âm “ưa” (lưa, thưa, mưa) nửa khép nửa mở tiếp liền nhau tạo hình những sợi mưa  đan trong màn đêm. Mưa chỉ “lưa thưa”,  không nặng hạt, nhưng kéo dài cả đêm. Cặp lục bát thứ hai là một hợp âm với nhiều âm xát và rung (trời, trở, sáng, ra, rụng), nghe như hai thứ âm thanh cọ vào nhau: gió heo may thổi  luồn qua những sợi mưa, lùa vào buồng cau đang nở, hoa cau tuôn xuống vại nước. Cả một thế giới của thanh, sắc, hương ùa vào tâm hồn rộng mở của bé Khoa trong một đêm thu yên tĩnh mơ màng.

Đêm Côn Sơn” xứng đáng là cái “kỳ thanh linh linh nhiên“ trong không gian ẩn dật của đại thi hào Nguyễn Trãi. Bài thơ mở đầu bằng một hợp âm mơ màng, thánh thót:

Tiếng chim vách núi nhỏ dần

Rì rầm tiếng suối khi gần khi xa

            Có sự kết hợp nhịp nhàng giữa các thanh âm trầm và bổng, khép và mở, tắt và vang giữa hai câu lục bát. Tiếng chim thánh thót đâu đó được dựng lên bằng hai âm trắc “vách núi” giữa câu rồi lắng xuống bởi thanh huyền ở chữ “dần” cuối câu. Cái âm vực thấp dần ấy bắc cầu sang tiếng suối trầm đục “rì rầm” ở câu bát, nhưng không tắt hẳn mà vang ra bởi âm tiết mở “xa” ở cuối câu. Đêm rất yên tĩnh. Từ đó, một thanh âm đột ngột rơi xuống cõi thinh không:

Ngoài thềm rơi cái lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

            Cái vô hình trở thành hữu hình. Vô thanh mà vẫn hữu thanh. Một nốt lặng trong cái tư thế “nghĩ  gì” của “ông bụt ngồi nghiêm”. Tiếng động của ngoại cảnh chuyển thành thanh âm của nội tâm:

          Ngang trời kêu một tiếng chuông

 Rừng xưa nổi gió,  suối tuôn ào ào.

Sự cân đối giữa hai  thanh không và phụ âm vang: “ngang” và “chuông” ở hai đầu câu lục làm cho các âm thanh của tiếng chuông như nối liền hai cực của không gian. Không gian nới giãn ở cõi vô cùng. Nhịp 4/4 đột ngột ở câu bát làm hơi thơ mạnh, khí thơ cuộn lại, cùng với các âm “o”  tròn tạo hình cơn lốc của thời gian từ quá khứ  ùa về hiện tại. Hồn Nguyễn Trãi xưa như hiện về hoà nhập cùng với hào khí của thời đại hôm nay. Riêng câu cuối là một hợp âm độc lập:

Ngoài kia nòng pháo ướt đầm sương khuya…

Hùng khí của thời đại cách mạng vang lên nhưng không phá vỡ không khí trầm tư suy tưởng của toàn bài. Khoa tách câu thơ này thành một khổ thơ riêng sau một nốt lặng. Nòng pháo kia không mang lại cái sôi động của cuộc chiến mà yên bình mộng mơ giữa đêm khuya yên tĩnh. Bài thơ đẹp ở vẻ đẹp trầm ngâm đầy suy tư ấy.

Câu lục bát sau hay ở cách ngắt nhịp:

Chị nhìn lá rụng, cành trơ

Đắng cay nhớ ổ chuối khô. Gió lùa…

Ở  bề mặt ngôn từ, đoạn thơ tái hiện quá khứ khổ đau của một người con gái ở đợ. Có cái nghèo nàn của ổ chuối khô, cái xơ xác của mái lều  nơi chị nằm. Ý nghèo. Chưa thành thơ. Nếu không có nhạc điệu, đấy chẳng qua là văn xuôi có vần. Phải đọc lên bằng âm vang của nhạc điệu theo đúng nhịp, phách của nó mới thấy hết những nỗi niềm chìm lắng ở bên trong. Câu lục ngắt nhịp 4/2: Chị nhìn lá rụng, / cành trơ. Nhịp 4 đầu nhanh, lá rụng ào xuống. Nhịp hai sau chậm, kéo dài ra. Cành trơ thật là trơ. Chơ vơ một thân phận cô đơn, bẽ bàng. Câu bát thứ hai ngắt nhịp 3/3/2 :  Đắng cay nhớ/ ổ chuối khô/. Gió lùa. Nếu đọc theo nhịp thông thường của thể lục bát, gió vẫn có đấy, nhưng chỉ thoảng qua. Đọc đúng nhịp như trên, giọng thơ nghẹn lại ở chữ “nhớ”, hơi thơ đứt quãng, nỗi đau cuộn lên. Riêng “gió lùa” một nhịp, gió như kéo dài từng sợi luồn qua ổ chuối nơi chị nằm, gió buốt qua da thịt, tái tê một nỗi niềm.

Không thể quên câu lục bát hay nhất trong cuộc đời làm thơ của Trần Đăng Khoa : câu thơ viết về mẹ  khi “Mẹ ốm” :

Cả đời đi gió đi sương

Bây giờ mẹ lại vịn giường tập đi

Khoa mượn thành ngữ “đi gió về sương” của dân gian nhưng thay đổi bằng cách biến âm “đi gió đi sương”. Giữa “đi” “về” trong trường hợp này chỉ là một, nhưng thay âm vực thấp “về” thành âm vực cao “đi”,  câu lục mang âm hưởng nhẹ tênh. Vốn thành ngữ “đi gió về sương” chỉ sự lam lũ cực nhọc. Khoa viết thành “đi gió đi sương” gợi cảm giác như mẹ Khoa thời trẻ coi chuyện lam lũ gió sương thật nhẹ nhàng. Mà ai thời trẻ chẳng thế. Nếu thật sự nặng nề mẹ Khoa đã không tồn tại đến bây giờ. Nhưng cũng chính vì thế mà buổi xế chiều mẹ mới thấm thía bao nhiêu nặng nhọc: Nắng mưa từ những ngày xưa. Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan. Lưu ý sự phối âm tương phản rõ nét giữa hai câu lục và câu bát: câu lục nhẹ thênh, câu bát trĩu nặng. Một cái gì đó nhói lên từ bước chân đau của mẹ. Thời trẻ như bay trong sương gió, đến già phải tập đi. Cái nghịch lý của một đời người! Mẹ ốm mẹ thành trẻ con, còn Khoa cũng từ đó mà trưởng thành.

3.   Việt Nam là đất nước sản sinh không ít những đứa trẻ biết làm thơ. Tương truyền, thời xưa đã từng có những thần đồng thi ca như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hiền, Lê Quý Đôn… Gần đây là Nguyễn Hồng Kiên, Nguyễn Bá Dậu, Phan Thị Vàng Anh… Nhưng để thành một nhà thơ thực sự với những thành công xuất sắc ngay từ thời thơ ấu, có lẽ chỉ có mỗi mình Trần Đăng Khoa. Góc sân và khoảng trời là tập thơ nhỏ nhắn nhưng trong đó chứa đựng bao nhiêu vẻ đẹp lớn lao của nghệ thuật. Cả đời làm văn chương của mình, đến lúc, ông Trần Đăng Khoa hiện tại phải nghiêng mình kính phục em bé Khoa ở góc sân và khoảng trời ngày trước.

Quy Nhơn 2003

Tạp chí Ngôn ngữ 02(237),2009, tr.32-31

About chumonglong

Thấy việc nghĩa không làm là đồ hèn. Thấy việc đúng mà bất lực là đồ ngu. Thấy việc thiện mà làm ngơ là đồ ích kỉ. Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo!

Đã đóng bình luận.